Đoàn kết - Sáng tạo - Hội nhập - Phát triển
     
Hôm nay, 19/07/2019
Trang chủ 
Giới thiệu 
Tin tức - sự kiện 
Hoạt động Hội 
Phụ nữ khởi nghiệp 
Dư luận xã hội 
Hệ thống văn bản hoạt động Hội 
Đọc và suy ngẫm! 
Tiếng nói của nữ đại biểu 
Phụ nữ trên các lĩnh vực 
Luật pháp, chính sách 
Giới và phát triển 
Gương Phụ nữ 
Giải thưởng cho phụ nữ 
Giải thưởng phụ nữ Việt Nam 
Phụ nữ Việt Nam tự tin tiến bước 
Giải thưởng khác 
Quốc tế 
Gia đình 
Văn hoá - Nghệ thuật 
Hội LHPN các thời kỳ 
Tư liệu 
Thông báo 
Tìm kiếm

Trang t­u lieu
nu tri thuc
van ban xin y kien
MTTQ
Website PN Việt Nam ở nước ngoài
He DHTN

Bạn là người truy cập thứ:
76478087

GIẢI THƯỞNG PHỤ NỮ VIỆT NAM
TÓM TẮT THÀNH TÍCH CÁ NHÂN ĐƯỢC TRAO GIẢI THƯỞNG PHỤ NỮ VIỆT NAM 2017
Cập nhật: 15/10/2017

Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam năm 2017 được trao cho 8 tập thể và 10 cá nhân có thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực của đời sống, đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội. Đây là Giải thưởng cao quý của Hội LHPN Việt Nam, được tổ chức thường niên nhằm ghi nhận sự cống hiến tài năng, sức sáng tạo của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lễ trao Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam năm nay được tổ chức tại Trung tâm Phụ nữ và Phát triển (20 Thụy Khuê- Hà Nội) vào chiều 17/10.

Website TW Hội LHPN Việt Nam xin trân trọng giới thiệu tóm tắt thành tích các cá nhân được trao Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam 2017 (Danh sách xếp theo Alphabet):

1.Trung tá. ThS. Bùi Thị Hà - Phó Trưởng Phòng Điện tàu, Viện Kỹ thuật Hải Quân, Quân Chủng Hải Quân, Bộ Quốc Phòng

Sinh năm 1978, chị tốt nghiệp Đại học Bách Khoa Hà Nội chuyên ngành kỹ thuật điện, năm 2001, chị về làm việc tại Phòng Điện tàu - Viện Kỹ thuật Quân chủng Hải quân và tiếp tục hoàn thành chương trình Thạc sỹ tại Đại học Hàng hải Việt Nam, chuyên ngành Tự động hóa. Là Phó Trưởng phòng, Phó Bí thư chi bộ Phòng Điện, chị luôn tích cực nghiên cứu khoa học với mong muốn làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật và sản xuất được các trang thiết bị phục vụ cho công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nâng cao sức chiến đấu của Quân chủng Hải quân góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Chị đã trực tiếp làm chủ nhiệm 01 đề tài, 01 nhiệm vụ cấp Bộ; chủ nhiệm 01 đề tài, 01 nhiệm vụ cấp Tổng cục, kết quả các nghiên cứu đều được áp dụng vào thực tiễn công tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của đơn vị. Điển hình như kết quả Nhiệm vụ nghiên cứu “Làm chủ hệ thống điều khiển và giám sát hệ thống động cơ MTU” là nhiệm vụ khó khăn, khi trước đó đã có nhiều đơn vị trong và ngoài quân đội nghiên cứu nhưng không thành công, trước yêu cầu của công việc, chị đã mạnh dạn đề xuất và tổ chức nhóm nghiên cứu. Sau 2 năm miệt mài nghiên cứu hơn 2.000 trang tài liệu tiếng Anh và tham gia khóa đào tạo ngắn ở nước ngoài, kết quả nghiên cứu thành công, tổ đề tài do chị chủ trì đã khôi phục lại hệ thống khác tương tự thiết bị nhập ngoại, không phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài. Thiết bị hiện đang được thay thế trên các tàu cảnh sát biển, tàu Hải quân. Đề tài nghiên cứu cấp Tổng cục Kỹ thuật: “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ thống tay chuông truyền lệnh bằng phương pháp kỹ thuật số”, chị đã nghiên cứu chuyển hệ thống cơ khí sang phương pháp kỹ thuật số giúp cho quá trình thao tác, truyền lệnh đảm bảo nhanh chóng, chính xác, kịp thời. Chị còn tham gia nghiên cứu nhiều nội dung trên tàu Hải quân mới như nghiên cứu, thiết kế chế tạo cảm biến ắc quy, hệ thống kiểm soát và chuẩn đoán ắc quy tàu P cho Lữ đoàn 189, chủ trì nhiệm vụ “Khôi phục hệ thống điều khiển và giám sát máy MTU-WJ trên tàu 381”, chủ trì thiết kế mới, thiết kế hoán cải các tàu, xuồng theo nhiệm vụ; tham gia tiếp nhận “Trung tâm đo, xử lý và tiêu từ tàu biển tại Cam Ranh - Khánh Hòa”...

Bên cạnh việc tập trung cho công tác nghiên cứu, chị trực tiếp tham gia huấn luyện cho cán bộ, chiến sỹ, nhân viên nắm chắc tính năng, tác dụng, nguyên nhân hỏng để làm chủ vũ khí trang thiết bị hiện đại, đưa các kết quả nghiên cứu được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn công việc của đơn vị. Là hội viên Hội Phụ nữ cơ sở, chị tham gia tích cực vào các hoạt động Phong trào Hội và các hoạt động từ thiện nhân đạo, ủng hộ các Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, Quỹ Vì người nghèo....

Đạt nhiều thành tích trong công việc, chị đã vinh dự được nhận giải A của Quân chủng Hải Quân và giải C “Tuổi trẻ sáng tạo” trong Quân đội về nghiên cứu khoa học, 01 Bằng khen của Viện Kỹ thuật Hải quân, 03 Giấy khen Thủ trưởng Viện Kỹ thuật, 05 năm đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở.

2. Chị Đỗ Thúy Hà - Chủ tịch Hội Người mù Quận Đống Đa, Hà Nội

Sinh năm 1981, thật không may khi chị lên 6 tuổi, mắt chị bị thoái hóa võng mạc và hỏng hẳn. Năm 9 tuổi, chị được vào học lớp chữ nổi dành cho người khiếm thị tại trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội. Ở trường có nhiều cùng bạn đồng cảnh ngộ giúp chị bớt mặc cảm, tự tin và vươn lên trong học tập. Sau 12 năm liên tục giữ thành tích học tập xuất sắc, năm 2000, chị là đại diện của trường tham gia cuộc thi Olympic tiếng Anh toàn miền Bắc do UNESCO tổ chức và đạt giải Ba, trở thành gương mặt “Nữ sinh Việt Nam”.

Tốt nghiệp phổ thông, chị tham gia Hội Người mù quận Đống Đa với tư cách là Ủy viên Ban Chấp hành và mở lớp trực tiếp dạy chữ Braille cho khoảng 15 hội viên. Với ham muốn học tập, nâng cao trình độ, chị quyết tâm thi đỗ vào khoa tiếng Anh - Viện Đại học Mở Hà Nội năm 2004. Dù khá bận rộn nhưng chị vẫn vừa đi học vừa hoàn thành tốt công việc tại Hội Người mù. Năm 2005, chị tiếp tục đăng ký học lớp kỹ năng lãnh đạo cho người mù của Nhật Bản, sau kỳ tuyển chọn gắt gao, vượt qua 350 đối thủ, chị đã lọt vào vòng phỏng vấn và là người duy nhất trúng tuyển, trở thành một trong 7 đại diện của 7 nước Châu Á - Thái Bình Dương nhận học bổng của Duskin du học tại Nhật Bản. Chị đã vượt qua 2 năm học đầy khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt chương trình. Sau khi về nước, chị tiếp tục hoàn thành chương trình học tại trường Đại học Mở Hà Nội. Năm 2012, chị được bầu là Chủ tịch Hội Người mù quận Đống Đa, chị tổ chức tốt công tác dạy chữ, dạy nghề (kỹ thuật viên xoa bóp bấm huyệt, các nghề thủ công, kỹ thuật phục hồi chức năng), tổ chức nhiều Câu lạc bộ, hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ cho gần 200 hội viên của hội. Chị phối hợp tổ chức mở lớp tiếng Anh cho 15 Hội viên, khóa học kỹ thuật viên xoa bóp bấm huyệt cho 20 hội viên giúp họ được học nghề và có cơ hội tìm kiếm việc làmmở phòng xoa bóp bấm huyệt giải quyết việc làm cho 05 nhân viên khiếm thị giúp cho họ có việc làm, ổn định cuộc sống. Là một phụ nữ khiếm thị nhưng chị luôn nỗ lực vươn lên trong cuộc sống, chủ động tạo dựng và tự tay chăm sóc gia đình riêng hạnh phúc với người chồng biết cảm thông và một cậu con trai 3 tuổi.

Mặc dù gặp không may trong cuộc sống, nhưng chị luôn đồng cảm, chia sẻ và tìm cơ hội để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Chị cùng nhóm tình nguyện tài trợ tiền ăn cho 15 học sinh khiếm thị nghèo đang học tại trường THCS Nguyễn Đình Chiểu và duy trì hoạt động này từ năm 2008 đến nay. Chị phối hợp với các tổ chức từ thiện quốc tế đi tặng sách và quà cho trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật ở nhiều tỉnh và đặc biệt chị luôn quan tâm đến các nữ hội viên của Hội và là tấm gương, nguồn năng lượng lan tỏa giúp họ học tập, vươn lên trong cuộc sống.

Với nhiều nỗ lực, chị đã vinh dự được nhận 04 Bằng khen cấp Bộ, UBND TP Hà Nội; Giải thưởng “Phụ nữ Việt Nam tự tin tiến bước” năm 2016; “Tấm gương nghị lực” năm 2014; Giải thưởng”Gương mặt trẻ Thủ độ tiêu biểu năm 2016”; Danh hiệu Phụ nữ tiêu biểuthủ đô năm 2013; Công dân Thủ độ ưu tú năm 2016; Tấm gương phụ nữ Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang.

3. Chị Nguyễn Thị Huệ - Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Hợp tác xã Chanh không hạt, xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Sinh năm1956, chị từng làm công tác binh vận, bị bắt và giam tại Khám Lớn - Cần Thơ; sau khi địch thả, chị tiếp tục làm công tác binh vận, làm kế toán; hiện chị là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Phong Điền, Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ ấp Trường Hòa, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã Chanh không hạt của xã Trường Long, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ;

Là một Chi hội trưởng năng động, chị luôn gương mẫu trong thực hiện các Phong trào thi đua, Cuộc vận động do Hội phát động và điều chị trăn trở nhiều là làm sao để giúp chị em trong Chi hội thoát nghèo, ổn định cuộc sống. Để phát triển kinh tế, chị xây dựng Câu lạc bộ trồng màu, giúp chị em có thu nhập khoảng 3 triệu đồng/vụ. Năm 2013, chị tiếp tục tìm hiểu và xây dựng mô hình trồng chanh không hạt. Với kết quả ban đầu, chị quyết tâm thành lập Câu lạc bộ với 10 thành viên, diện tích trồng 8.85 ha, mức thu nhập sau trừ chi phí còn 24 triệu đồng/ha. Nhận thấy đây là mô hình kinh tế hiệu quả, giúp chị em có thu nhập ổn định, năm 2015, chị thành lập Hợp tác xã Chanh không hạt với 24 thành viên, với giá bán khoảng từ 15.000 - 35.000đ/kg, mức thu nhập bình quân đạt 32 triệu đồng/ha, ổn định khâu tiêu thụ sản phẩm. Với vai trò là quản lý, chị tích cực tìm kiếm các nhà đầu tư hỗ trợ về khoa học kỹ thuật và tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm giúp xã viên yên tâm sản xuất.

Bằng nhiều việc làm cụ thể, thiết thực, chị vận động được nhiều chị em tham gia các hoạt động Hội, vận động tham gia Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc với 91 hội viên tham gia, mô hình “5 không, 3 sạch”, mỗi năm có từ 5-10 hộ gia đình đạt các tiêu chí, đến nay đã có 85,5%. Chi Hội ban đầu có 35 chị đến nay đã có 91 chị em sinh hoạt, đạt tỷ lệ thu hút 90%. Chị vận động chị em tham gia hùn vốn, tiết kiệm được 36 triệu đồng giúp 64 lượt hội viên vay vốn; vận động nuôi heo đất với 64 thành viên, tiết kiệm được trên 10 triệu đồng cho 58 lượt chị em vay phát triển chăn nuôi và kết quả đã giúp cho 7 hội viên thoát nghèo bền vững. Chi hội của chị nhiều năm liền đạt danh hiệu Chi hội vững mạnh xuất sắc. Chị tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo từ thiện như vận động xây 04 Mái ấm tình thương, trị giá mỗi nhà khoảng 30 triệu đồng tại ấp, vận động nhiều nhà tài trợ ủng hộ gạo, quà, quần áo cho hộ nghèo, cận nghèo, mỗi năm từ 10-15 suất.

Chị đã vinh dự được nhận Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, 02 Bằng khen của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2014, 2016), Danh hiệu “Phụ nữ xuất sắc 5 năm tiêu biểu toàn quốc”, 01 Kỷ niệm chương của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và một số Giấy khen khác.

4. Chị Đặng Thị Kim Liên - Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tỉnh Quảng Bình.

Sinh năm 1949, chị tốt nghiệp Đại học Sư phạm Vinh và được tuyển chọn dạy Trường thực hành hướng dẫn cho sinh viên thực hành sư phạm tại huyện Quỳnh lưu, Nghệ An. Hơn 18 năm gắn bó với nghề dạy học, chị được đồng nghiệp và học trò yêu quí, tín nhiệm trở thành nữ Hiệu phó ở Trường cấp II Lý Ninh - trường điểm Tổ đội lao động XHCN tại Quảng Bình. Sau đó, chị được tín nhiệm bầu là đại biểu Hội đồng Nhân dân thị xã Đồng Hới khóa XV, Trưởng ban Tuyên huấn - Hội LHPN thành phố Đồng Hới, Trưởng ban Nữ công Liên đoàn Lao động thị xã Đồng Hới. Hiện chị là Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tỉnh Quảng Bình. Chị cũng có 18 năm gắn bó với Hội Phụ nữ thị xã Đồng Hới (nay là thành phố Đồng Hới) với vai trò là Trưởng ban Tuyên huấn, chị đã tham gia tích cực góp phần đưa phong trào của Hội Phụ nữ thành phố nhiều năm dẫn đầu phong trào thi đua của tỉnh. Chị rất quan tâm bồi dưỡng phương pháp và kỹ năng làm công tác dân vận cho cán bộ Hội cơ sở với phương châm “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

Chị sáng tác rất nhiều thơ ca gắn với hình ảnh người phụ nữ, tiêu biêu như bài thơ “Người mẹ Quảng Bình” cũng đã được phổ nhạc. Đến nay, chị đã sáng tác và xuất bản 7 tập thơ, trong đó có rất nhiều bài thơ được phổ nhạc. Điển hình như các ca khúc: “Tình sông Nhật lệ”, “Những vì sao không tên”, “Nay em là cô giáo”..., đặc biệt Ca khúc “Lặng lẽ” - thơ do chị sáng tác, nhạc Lê Anh đã được Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2016. Chị còn nghiên cứu về các công trình nghiên cứu văn hóa dân gian, chị đã có 5 công trình nghiên cứu được biên soạn và xuất bản; tiêu biểu như Chợ quê Quảng Bình, cuốn “Thuần phong mỹ tục phụ nữ Quảng Bình”, sách đã được xuất bản trên 2.000 cuốn; Địa chí làng An xá, Địa chí làng Đức Phổ... Hiện chị còn 01 công trình đang in “Các làn điệu dân ca Quảng Bình” và 04 bản thảo chưa in như “Quảng Bình miền sự tích”, Văn hóa dân gian tộc người Vân Kiều Quảng Bình... Chị còn nghiên cứu về lịch sử như cuốn “Lịch sử phụ nữ Đồng Hới”, 02 tập “ Lịch sử Đảng bộ xã Đức Ninh, lịch sử Đảng bộ xã Nghĩa Ninh” - viết chung với cán bộ Bảo tàng Quảng Bình. Chị tích cực tham gia các công tác từ thiện nhân đạo, giúp đỡ các gia đình liệt sỹ neo đơn, ủng hộ khuyến học dòng họ hàng chục triệu đồng.

Chị đã vinh dự được nhận Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì, 7 Bằng khen cấp tỉnh, Giải thưởng Nhà nước về VHNT cho tác phẩm “Lặng lẽ” (2016), 04 Giải thưởng Văn học nghệ thuật Lưu Trọng Lư của tỉnh, 01 Giải thưởng Âm nhạc của UBTQ Liên hiệp hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (1996) và nhiều giải thưởng khác.

5.Chị Nguyễn Thị Liễu - Phó Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Đức Trí, Quận I, TP Hồ Chí Minh.

Sinh năm 1974, trưởng thành từ một giáo viên dạy tiếng Anh, chị đã được tín nhiệm giữ các chức danh Phó hiệu Trưởng trường THCS Minh Đức, trường THCS Đức Trí. Là cán bộ quản lý, chị luôn tâm huyết, mong muốn ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, nghiên cứu khoa học đổi mới phương pháp dạy học. Nhờ những nỗ lực đó, phong trào dạy và học tại trường được hưởng ứng mạnh mẽ, kết quả số học sinh giỏi cấp quận tăng qua các năm, chỉ tính riêng khối lớp 9, năm học 2015-2016 có 8 học sinh; năm học 2016 - 2017 có 13 học sinh giỏi. Chị cùng đồng nghiệp thực hiện chương trình “Vì đàn em” (Một giáo viên kèm một học sinh yếu kém). Các thầy cô đã dành nhiều thời gian sau giờ lên lớp để kiểm tra bài vở cho các em. Kết quả cuối năm học, có 55 học sinh từ xếp loại yếu lên trung bình và 2 học sinh từ loại yếu lên khá.

Với mong muốn ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác giảng dạy tạo cho các em có hứng thú học tập và khơi nguồn sáng tạo, trong năm học 2015 - 2016, chị đã tổ chức được một số tiết học kết nối với các lớp học trong và ngoài nước với kết quả đáng khích lệ, học sinh trong lớp rất hứng khởi với tiết học thực tế rất bổ ích. Bằng hình ảnh thật, sống động qua thiết bị skype trong tiết học trực tuyến về Sơn La ngay thời điểm diễn ra thời tiết lạnh khắc nghiệt cuối năm 2015, các em được giáo viên tại Sơn La cho xem những thiệt hại nặng nề ở vùng đất này. Sau tiết học các em học sinh đã lập nhóm SOS cùng nhau đi quyên góp ở các lớp và đã gửi đến cho các bạn học sinh Sơn La 10 triệu đồng cùng với quần áo ấm, mền, vớ...; chị cũng tổ chức kết nối tiết học với học sinh tại Ấn Độ, Srilanka, trường Dịch Vọng - Hà Nội. Chị trực tiếp chỉ đạo, hỗ trợ và bồi dưỡng cho các giáo viên tham gia các hoạt động chuyên môn trong và ngoài nhà trường. Chị có 02 sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng oneNote trong việc lưu trữ hồ sơ quản lý” năm 2015 và Sáng kiến kinh nghiệm năm 2016 “Ứng dụng công cụ Skype trong việc tổ chức lớp học kết nối trong và ngoài nước”. Các sáng kiến đã được nghiệm thu và được công nhận đạt sáng kiến kinh nghiệm cấp quận.

Say mê với công việc, chị cũng rất tích cực tham gia các hoạt động từ thiện xã hội như cứu trợ lũ lụt, xây nhà tình thương, chăm lo Tết cho người nghèo, ủng hộ Trường Sa..., bản thân chị tham gia hiến máu nhân đạo 8 lần. Chị tổ chức các phong trào quyên góp ủng hộ, nhận chăm sóc, đỡ đầu học sinh nghèo, mồ côi, khuyết tật, hoạn nạn trong và ngoài trường.

Với nhiều thành tích nội bật, chị đã vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 5 Bằng khen cấp Bộ,Thành phố, Giải Nhất cá nhân xuất sắcdành cho Fellow tại Diễn đàn giáo dục toàn cầu (2017) do Microsoft tổ chức (chứng nhận Quốc tế), cùng đồng nghiệp đạt Giải Nhất thi thuyết trình tại Diễn đàn giáo dục toàn cầu (tại Redmond, Hoa Kỳ), giải Nhất cấp quốc gia cuộc thi “Giáo viên sáng tạo trên nền tảng CNTT”, Giải nhất cấp Quốc gia cuộc thi “Dạy học theo chủ đề tích hợp”, danh hiệu Chiến sỹ Thi đua cơ sở (2013-2016).

6. PGS.TS. Đỗ Thị Bích Loan - Nghiên cứu viên cao cấp, Trung tâm Nghiên cứu Quản lý giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam.

Sinh năm 1957, chị tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội và bảo vệ học vị Tiến sỹ tại Viện hàn lâm khoa học Bungaria. Chị đã giữ các chức danh Phó trưởng phòng, Phó Giám đốc, Bí Thư Chi bộ Trung tâm Nghiên cứu Quản lý giáo dục - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và hiện là Nghiên cứu viên cao cấp - Trung tâm Nghiên cứu Quản lý giáo dục. Chị đã chủ trì 6 đề tài nghiên cứu khoa học, trong đó có 2 đề tài cấp Quốc gia, 4 đề tài cấp Bộ. Các đề tài do chị chủ trì đều được đánh giá cao, mang lại các luận chứng khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất chính sách về giáo dục. Tiêu biểu như đề tài “Giải pháp phân luồng học sinh sau THCS” (2017 - 2019) - được tuyển chọn, kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp luận cứ khoa học cho việc cho việc hoạch định chính sách và giải pháp phân luồng học sinh sau THCS, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời và nhu cầu nguồn nhân lực; đề tài “Định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh THCS khu vực nông thôn đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam” (2014 - 2016) - được nghiệm thu và cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách và giải pháp về định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh THCS khu vực nông thôn; Nhiệm vụ cấp Bộ về Giáo dục giá trị văn hóa truyền thống trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam với kết quả tốt đã cung cấp luận cứ khoa học cho thiết kế bài giảng tích hợp giáo dục giá trị văn hóa truyền thống trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam… Chị còn tham gia 13 đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp Bộ, các kết quả nghiên cứu cũng là các luận cứ khoa học cho các chính sách liên quan đến phát triển giáo dục. Tiêu biểu như chủ trì nghiên cứu Báo cáo Quốc gia Việt Nam trong nghiên cứu “Phân tích thực trạng giáo dục vì sự phát triển bền vững ở Châu Á - Thái Bình Dương” đã cung cấp bức tranh về thực trạng và định hướng giáo dục vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam trong định hướng phát triển của Vùng Châu Á - Thái Bình Dương; Nhiệm vụ cấp Bộ về Đánh giá tình hình thực hiện giai đoạn I Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 đã cung cấp luận cứ khoa học cho việc điều chỉnh mục tiêu, chỉ tiêu và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện thành công giai đoan II (2016 - 2020) Chiến lược Phát triển giáo dục... Chị biên soạn nhiều tài liệu có giá trị, công bố 15 cuốn sách, tài liệu và 38 bài báo trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước, trong đó có 2 cuốn sách xuất bản ở nước ngoài, 2 bài báo Quốc tế và 02 bài trong kỷ yếu Hội thảo quốc tế. Chị đã hướng dẫn 9 Nghiên cứu sinh, 20 học viên cao học; tham gia giảng dạy sau Đại học, biên soạn giáo trình sau Đại học, tập huấn cho giáo viên.

Bên cạnh các hoạt động chuyên môn, chị rất tích cực tham gia các hoạt động từ thiện xã hội và các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ. Chị là trưởng nhóm đầu mối về Giới của Bộ (từ năm 2006) và chủ trì các hoạt động về bình đẳng giới trong giáo dục, điều phối hoạt động Chương trình chung hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam với các tổ chức quốc tế về Bình đẳng giới (2009 - 2012). Chị đã tổ chức nhiều hội thảo tập huấn nâng cao năng lực giới cho cán bộ quản lý, giáo viên các cấp và triển khai nhiều hoạt động như phối hợp với UNESCO Hà Nội nghiên cứu rà soát sách giáo khoa dưới góc độ giới đề xuất các khuyến nghị loại bỏ định kiến giới trong chương trình sách giáo khoa phục vụ đổi mới chương trình SGK phổ thông, biên soạn tài liệu “Hướng dẫn rà soát và phân tích sách giáo khoa dưới góc độ về giới”, tham gia xây dựng Kế hoạch hành động về bình đẳng giới giai đoạn 2012 - 2015, giai đoạn 2016 - 2020 của ngành giáo dục…

Chị đã vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2016), 02 Bằng khen cấp Bộ.

7. Chị Nguyễn Thị Ngọc Mai - Công nhân Dệt bậc 2/5, Xí nghiệp Bao bì Vĩnh Tuy, Công ty Xi măng Vicem Hoàng Thạch, Tông Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam.

Sinh năm 1978, là công nhân Dệt có tay nghề bậc 2/5, trực tiếp sản xuất trên dây chuyền, chị đã có 03 sáng kiến cải tiến kỹ thuật đem lại lợi ích cho Công ty.

Đó là các sáng kiến “Nghiên cứu sử dụng dầu Emeson thay dầu Silicol để làm mát và bôi trơn sợi Dệt”. Trước đây các máy dệt bằng dầu Silicol - loại dầu không có trong nước, giá thành cao, không chủ động trong sản xuất, Xí nghiệp cũng đã thử nhiều loại dầu bôi trơn khác nhưng không hiệu quả, hay gây đứt sợi trong quá trình dệt. Chị đã mạnh dạn nghiên cứu, thử nghiệm nhiều lần, chị đã tìm ra tỷ lệ thích hợp cho dầu Emesol với nước 1% là dung dịch thay thế. Kết quả rất khả quan, các máy dệt sử dụng tốt, giảm tần suất đứt sợi, từ 30 lần xuống còn 20 lần/ca và quan trọng là dầu Emeson rất dễ mua, pha chế và dễ sử dụng. Sáng kiến của chị đã làm lợi cho đơn vị 20 triệu đồng/năm.

Sáng kiến “Cải tiến quy trình đánh dấu sản phẩm công đoạn” khởi nguồn từ thực tiễn công việc đánh dấu sản phẩm của từng kíp dệt thường sử dụng bút sơn. Tuy nhiên, việc kiểm tra, truy tìm nguồn gốc sản phẩm rất khó khăn và việc quản lý, đánh giá sản phẩm của từng ca dệt cũng phức tạp. Trước thực tế đó, chị đã có sáng kiến dùng sợi mầu để đánh dấu kíp và thống nhất ở tất cả các khâu đã giúp cho việc kiểm soát triệt để nguồn gốc sản phẩm và việc quản lý sản phẩm cũng dễ dàng hơn.

Sáng kiến “Thay đổi chiều rộng sợi vải Dệt tại công đoạn Tạo sợi và phân bố lại sợi dọc trong máy Dệt”; theo cách làm cũ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, tạo ra cuộn vải quá to hoặc nhỏ hơn cũng tác động đến các công đoạn tiếp theo gây lãng phí nguyên liệu. Chị đã nghiên cứu, tìm hiểu và có sáng kiến chỉnh kích thước sợi vải và bố trí lại sợi vải dệt hợp lý, điều chỉnh sợi vải dọc theo một sơ đồ nhất định. Kết quả sáng kiến của chị đã giúp cho năng suất lao động tăng lên, giảm tiêu hao vật tư, khoảng 50kg nhựa/ca, lượng phế cũng giảm từ 5-8kg/ca còn 2-4kg/ca. Hiệu quả kinh tế từ sáng kiến mang lại giúp tiết kiệm khoảng 1.5 triệu đồng/ca và khoảng 1 tỷ/năm chi phí sản xuất cho đơn vị. Say mê với công việc, chị cũng rất tích cực tham gia hoạt động đoàn thể, các phong trào thi đua lao động sản xuất của đơn vị, quan tâm đến nữ tổ viên khác, thăm hỏi khi thai sản, ốm đau và tích cực tham gia các hoạt động từ thiện.

Chị đã vinh dự được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2016), Bằng khen của TW Hội LHPN Việt Nam “Phụ nữ xuất sắc toàn quốc giai đoạn 2011 - 2016”, danh hiệu Chiến sỹ Thi đua cơ sở (2013 - 2015), 01 Giấy khen, danh hiệu thanh niên tiên tiến.

8. ThS. Lê Như Quỳnh - Vụ Trưởng, Phó Trưởng ban Thường trực, Ban Cải cách hiện đại hóa Hải quan, Tổng Cục Hải quan, Bộ Tài Chính.

Sinh năm 1971, tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội, về công tác tại Hội Luật gia Hà Nội, Vụ Pháp chế - Tổng cục Hải quan (TCHQ), chị đã giữ các chức danh: Phó phòng, Phó Chánh Văn phòng, Phó Vụ Trưởng Vụ Pháp chế - TCHQ, hiện nay là Vụ Trưởng, Phó Trưởng ban Thường trực, Ban Cải cách hiện đại hóa Hải quan, TCHQ. Chị tham gia điều hành Ban Cải cách ngay từ đầu thành lập và điều hành toàn diện hoạt động của Ban từ 2012 đến nay. Chị là thành viên Hội đồng khoa học của TCHQ (2011 - 2018), thành viên nhóm xây dựng Chiến lược phát triển Hải quan đến 2020 và kế hoạch cải cách hiện đại hóa 2011 - 2015, định hướng xây dựng, hoàn thiện nội dung kế hoạch cải cách hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2016 - 2020. Đây là những văn bản chiến lược quan trọng hướng đến xây dựng Hải quan điện tử, hệ thống thông tin điện tử, cơ chế một cửa. Chị chỉ đạo và trực tiếp tham gia nghiên cứu đổi mới phương thức quản lý Hải quan; triển khai thủ tục hải quan điện tử trên cơ sở kết quả đề tài nghiên cứu cấp ngành do chị làm chủ nhiệm: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng chuẩn mực quốc tế trong xây dựng và triển khai thủ tục Hải quan điện tử ở Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu đã áp dụng trong quá trình triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử giai đoạn 2007 - 2012. Đến nay, thủ tục hải quan điện tử trên hệ thống thông quan tự động đã được triển khai tại 35/35 Cục hải quan và 171/171 Chi cục Hải quan toàn quốc. Chị chỉ đạo triển khai một cửa quốc gia hướng đến một cửa ASEAN với kết quả đề tài nghiên cứu do chị làm chủ nhiệm “Áp dụng phương pháp phân tích khoảng cách pháp lý trong xây dựng khung pháp lý đảm bảo triển khai cơ chế một cửa quốc gia, tham gia cơ chế một cửa ASEAN”, cơ chế một cửa đã kết nối chính thức 10/14 Bộ ngành, cơ chế một cửa ASEAN đã kết nối kỹ thuật thành công với 4 nước ASEAN. Chị chỉ đạo trực tiếp nhóm nghiên cứu cơ bản về cải cách nguồn nhân lực, hiện TCHQ đã làm chủ được phương pháp xác định vị trí việc làm, xây dựng khung năng lực, hệ thống đánh giá... Nhận diện tầm quan trọng của quan hệ đối tác hải quan, chị đề xuất và đưa vào triển khai nội dung trọng tâm của hoạt động cải cách hiện đại hóa Hải quan đến 2020, trong đó chú trọng quan hệ giữa Hải quan và doanh nghiệp. Xác định việc xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động hải quan là nhiệm vụ trong Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020, chị đề xuất ý tưởng và trực tiếp triển khai; chị đã đề xuất đưa nội dung trên thành nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan Hải quan các cấp, chỉ đạo nghiên cứu, thiết lập và từng bước hoàn thiện hệ thống chỉ số. Năm 2013, 32 chỉ số đã được bổ sung, hoàn thiện và sử dụng thống nhất trong ngành. Chị đề xuất xác định chỉ số thời gian thực hiện thủ tục giao thương qua biên giới, chỉ số hài lòng của khách hàng đối với hoạt động hải quan, các ý tưởng trên đều được triển khai và được áp dụng thúc đẩy tính minh bạch, hiệu quả của ngành Hải quan.

Là cán bộ nữ, chị luôn quan tâm đến công tác cán bộ nữ. Vụ có 29 nữ trên tổng số 40 CBCNVLĐ, trong đó có 9 lãnh đạo nữ từ cấp phòng đến Vụ. Chị tạo điều kiện 46 lượt chị em học tập nâng cao trình độ tại các khóa đào tạo ngắn và dài hạn trong và ngoài nước, luôn tạo điều kiện hỗ trợ chị em phát huy khả năng, đảm bảo quyền lợi thai sản, ốm đau, lương thưởng, khám định kỳ 2 lần/năm.

Chị đã vinh dự được nhận Huân chương Lao động hạng Ba (2012), Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2010), Bằng khen danh dự của tổ chức Hải quan thế giới (2013), 03 Bằng khen cấp Bộ, danh hiệu Chiến sỹ Thi đua ngành Tài chính (2008,2011,2014) và danh hiệu Chiến sỹ Thi đua cơ sở.

9. Đại tá, ThS. Nghiêm Thanh Thủy - Trưởng phòng PA72, Công an tỉnh Đắk Lắk

Sinh năm 1967, tốt nghiệp Đại học An ninh Nhân dân, chị về làm việc tại Công an tỉnh Đắk Lắk, đã giữ các chức danh Đội trưởng, Phó phòng, Trưởng phòng An ninh chính trị nội bộ và hiện là Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh - Công an tỉnh. Ở các lĩnh vực chuyên môn, chị đều có nhiều thành tích nổi bật. Lĩnh vực bảo vệ nội bộ trên địa bàn rất phức tạp, chị và đồng đội âm thầm nỗ lực thực hiện nhiều chuyên án góp phần ngăn chặn nhiều vụ phát tán tài liệu xấu, có âm mưu phá hoại Đảng, chính quyền, điển hình 02 vụ biểu tình, bạo loạn diễn ra vào năm 2001, 2004; Xử lý các đối tượng lợi dụng hoạt động báo chí, văn hóa, xã hội từ thiện để vụ lợi; Chỉ đạo xây dựng và triển khai kế hoạch bảo vệ an toàn cho 60 đoàn lãnh đạo cấp cao, 15 đoàn khách quốc tế làm việc tại tỉnh. Lĩnh vực Văn hóa nghệ thuật, chị và đồng đội đã phát hiện, bắt giữ, chuyển cơ quan điều tra truy tố 7 vụ, 7 đối tượng mua bán, tàng trữ, truyền bá văn hóa phẩm độc hại, thu giữ trên 11 ngàn băng đĩa, 7 máy móc phương tiện. Chị và đồng nghiệp đã triệt phá 02 tụ điểm in sao băng đĩa bằng tiếng Êđê có nội dung phản động. Trong đó có nhiều vụ, chị và đồng đội phải đấu tranh, theo dõi thời gian dài, rất khó khăn, nguy hiểm. Chị chỉ đạo và phối hợp liên ngành kiểm tra 275 cơ sở kinh doanh dịch vụ Internet, xử phạt 125 cơ sở kinh doanh vi phạm, bắt giữ 3 vụ buôn bán chiêng ché, thu giữ 30 chiêng, ché, 02 trống đồng cổ, đồng thời tích cực tuyên truyền cho bà con hiểu đúng về ý nghĩa văn hóa cồng chiêng, xây dựng ý thức gìn giữ, bảo tồn. Chị tham mưu cho lãnh đạo tỉnh vụ tổ chức “Hoa Mai Hội” lợi dụng, lôi kéo nhiều người vào việc tìm kiếm kho báu ở huyện Lắk, dùng nhiều tên đơn vị khác nhau để xin khai quật, bằng nghiệp vụ, chị và đồng đội đã tìm hiểu tài liệu, địa bàn, gặp các già làng, trưởng bản tìm hiểu thông tin, các chuyên gia khảo cổ. Kết quả điều tra giúp tham mưu cho lãnh đạo chỉ đạo không để đối tượng đào bới khu vục cho là có kho báu, đồng thời phối hợp cơ quan truyền thông xây dựng phóng sự tuyên truyền cho người dân hiểu và cảnh giác. Lĩnh vực GD-ĐT, chị cùng đồng đội bóc gỡ đường dây chạy suất đỗ vào Cao đẳng VHNT tỉnh; vụ mua bán chứng chỉ tin học, ngoại ngữ giả tại tỉnh và đường dây tại TPHCM, Hà Nội, vụ án bắt 4 đối tượng, thu 3 máy tính, 1 máy in và trên 500 triệu đồng, tiêu hủy 257 chứng chỉ giả; ngoài ra còn xác minh, làm rõ nhiều vụ việc như sinh viên tham gia tổ chức FULRO, liên kết đào tạo sai quy định... Lĩnh vực y tế - lao động - xã hội, chị đã chỉ đạo điều tra và vạch trần thủ đoạn lừa đảo trong vụ tìm hài cốt liệt sỹ bằng phương pháp tâm linh (vụ cậu Thủy), sau nhiều ngày đấu tranh, bằng nhiều nghiệp vụ và tâm huyết, chị và đồng đội đã đưa vụ việc ra ánh sáng. Điều tra vụ 180 trường hợp làm giả hồ sơ hưởng chính sách người có công gây thiệt hại khoảng 4 tỷ đồng và phát hiện một số vụ việc có hành vi lừa đảo người đi xuất khẩu lao động... Lĩnh vực bảo vệ bí mật Nhà nước, chị đã tham mưu xây dựng danh mục các địa điểm, khu vục cấm thuộc bí mật Nhà nước; điều tra 04 vụ mất con dầu... Lĩnh vực xuất nhập cảnh, chị chỉ đạo, xử lý 03 đối tượng làm CMND giả; phát hiện 01 vụ, 15 đối tượng dùng CMND của người khác để làm hộ chiếu; ...Bên cạnh đó, chị còn tham gia giảng dạy 10 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho trên 700 lượt cán bộ bảo vệ; đồng thời tích cực tham gia nghiên cứu với đề tài: “Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo An ninh GD-ĐT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”, đề tài được cấp tỉnh nghiệm thu xuất sắc.

Là lãnh đạo cấp phòng ở đơn vị đặc thù, chị chủ động tham mưu quy hoạch cấp trưởng/phó phòng; tạo điều kiện cho chị em xây duy trì Quỹ tiết kiệm giúp nhau làm kinh tế gia đình, thường xuyên tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho chị em trong đơn vị. Chị vận động một số đơn vị hỗ trợ thóc giống, phân bón trị giá 50 triệu đồng để Hội Phụ nữ tỉnh thành lập 01 mô hình HTX sản xuất tại xã Ea Mnang; vận động chị em trong đơn vị ủng hộ 5 triệu đồng mua 4 heo giống hỗ trợ 01 phụ nữ nghèo tại buôn Sutgru, kêu gọi ủng hộ xây tặng 01 lớp học tình thương và tổ chức trung thu cho trẻ em đồng bào dân tộc với số tiền 150 triệu đồng...

Chị vinh dự được nhận 02 Huy chương Chiến sỹ vẻ vang, 18 Bằng khen cấp Bộ, tỉnh; danh hiệu CSTĐ toàn lực lượng,19 Giấy khen, 04 Kỷ niệm chương, danh hiệu “Phụ nữ Công an tiêu biểu 2016”.

10. TS. Hà Thị Phương Thư - Trưởng phòng Vật liệu nano y sinh, Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Sinh năm 1974, chị là Nghiên cứu viên chính thuộc lĩnh vực nano y sinh, ứng dụng trong y-dược học, sinh học, nông nghiệp. Trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, chị là tác giả/đồng tác giả của 71 bài báo trong các tạp chí quốc tế, trong danh mục ISI và trong các tạp chí trong nước, các tuyển tập báo cáo toàn văn của hội nghị quốc tế và quốc gia.Trong đó có 17 bài đăng trên tạp chí quốc tế ISI và 12 bài trong các tạp chí quốc tế khác. Trong nghiên cứu ứng dụng, chị làm chủ nhiệm 10 đề tài (cấp quốc gia: 3, cấp Bộ: 2, quỹ Innofund: 1, cấp cơ sở: 3, đề tài do doanh nghiệp đặt hàng: 1); Tham gia: 4 đề tài (cấp nhà nước: 2, cấp quốc gia: 1, cấp Bộ: 1). Các nghiên cứu: “Nghiên cứu quy trình bào chế hệ dẫn thuốc kích thước nano: nano (fucoidan-ginseng-curcumin) dùng trong phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung bướu”, kết quả đã được đưa vào quy mô pilot để sản xuất sản phẩm Phức hệ nano FGC và chuyển giao cho công ty Dược CVI để sản xuất thực phẩm chức năng CumarGold Kare, nâng cấp quy mô sản xuất phức hệ nano FGC lên 120kg/tháng, tương đương với 20.000 (hai mươi nghìn) hộp sản phẩm CurmaGold Kare. Sản phẩm được dùng trong phòng ngừa và hỗ trợ điều trị ung bướu và được bệnh nhân ung thư phản hồi rất tích cực. Hiện nay sản phẩm Cumargold Kare đã có mặt trên 63 tỉnh thành với số lượng tiêu thụ là 20.000 hộp sản phẩm trong tháng. Kết quả đề tài nghiên cứu cơ bản Nafosted: “Nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm vật liệu mang thuốc kích cỡ nanomét có khả năng nhả chậm, định hướng chọn lọc đến tế bào ung thư”, đã được ứng dụng để chế tạo nguyên liệu Nano Curcumin và đã chuyển giao cho công ty từ năm 2013 để sản xuất 02 loại thực phẩm chức năng là CumarKul và AntriNano Plus. Chị cùng đồng nghiệp nghiên cứu về chế tạo các hệ vật liệu nano ứng dụng trong nông nghiệp, các kết quả thu được khi thử nghiệm trong phòng thí nghiệm hoặc trong hồ nuôi tôm cho thấy các hệ vật liệu nano có khả năng sát khuẩn tốt hơn các kháng sinh tự do. Chị hướng dẫn thành công 05 khóa luận sinh viên, 04 luận văn cao học, hướng dẫn 07 Nghiên cứu sinh. Chị là giảng viên cơ hữu của Học viện Khoa học và Công nghệ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, tham gia giảng dạy sau Đại học tại nhiều Trường Đại học như Sư phạm Huế, Trường Đại học Cần Thơ... Chị tích cực tham gia công tác từ thiện xã hội, từ năm 2016, chị đã hỗ trợ cho bệnh nhân bị ung thư và bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo sử dụng phức hệ nano FGC hàng tháng, trị giá sản phẩm 500 triệu đồng.

Chị được nhận Giải thưởng L’Oreal - UNESCO “Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học” năm 2012, được Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tặng Bằng khen cho sản phẩm tiêu biểu tham gia Ngày PNST năm 2013, 03 Bằng khen cấp Bộ. Năm 2016, Tạp chí Forbes bình chọn là 1 trong 50 phụ nữ ảnh hưởng nhất Việt Nam.

In trang Gửi tới bạn Đầu trang  Gửi phản hồi

 
Các tin khác:
Các tin tiếp theo ››  
 

"... Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà có nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy thế hệ anh hùng của nước ta...

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chủ tịch uỷ ban hành chính, bí thư chi bộ....

Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam thật là anh hùng..."

(Trích bài nói chuyện của Hồ Chủ Tịch nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam 20/10/1966).

Tin mới
 • Vĩnh Long: Khởi nghiệp với mô hình nông nghiệp sạch
 • Triển khai chủ đề năm An toàn cho phụ nữ, trẻ em
 • Các tỉnh, thành tổ chức nhiều lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ, hội viên, phụ nữ
 • Điện Biên: Hiệu quả từ mô hình “Xây dựng gia đình hạnh phúc” ở Na Lay
 • Đoàn giám sát phòng, chống xâm hại trẻ em họp phiên thứ nhất
 • Hội LHPN tỉnh Quảng Trị, Đắk Lắk sơ kết giữa nhiệm kì thực hiện Nghị quyết đại hội đại biểu phụ nữ
 • Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền qua các cuộc thi
ATPNTE
hotline
Cuoc thi Y tuong l3
ATGT
HVPN
TTPN
TYM

For Advertise

 

Bản quyền thuộc về Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Địa chỉ:39 Hàng Chuối - Hà Nội - Việt Nam ; Điện thoại:9713436 -  Fax: (84-4) 9713143; Email: ;Website:
http://hoilhpn.org.vn

machining cnc machining services precision machining metal stamping sheet metal fabrication cnc milling CNC turning