Đoàn kết - Sáng tạo - Hội nhập - Phát triển
     
Hôm nay, 07/12/2019
Trang chủ 
Giới thiệu 
Tin tức - sự kiện 
Hoạt động Hội 
Phụ nữ khởi nghiệp 
Dư luận xã hội 
Hệ thống văn bản hoạt động Hội 
Đọc và suy ngẫm! 
Tiếng nói của nữ đại biểu 
Phụ nữ trên các lĩnh vực 
Luật pháp, chính sách 
Giới và phát triển 
Gương Phụ nữ 
Giải thưởng cho phụ nữ 
Quốc tế 
Gia đình 
Văn hoá - Nghệ thuật 
Hội LHPN các thời kỳ 
Tư liệu 
Thông báo 
Tìm kiếm

Trang t­u lieu
nu tri thuc
van ban xin y kien
MTTQ
Website PN Việt Nam ở nước ngoài
He DHTN

Bạn là người truy cập thứ:
80095627

TRANG CHỦ
Văn kiện Đại hội:
Báo cáo tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ X
Cập nhật: 24/09/2007

(Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam khoá IX trình Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ X)

Phụ nữ Việt Nam đoàn kết, sáng tạo, bình đẳng, phát triển, góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước


Chiếm 49,95% lực lượng lao động trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp [1], phụ nữ giữ vai trò quan trọng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, tăng kim ngạch xuất khẩu. Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết, dịch bệnh, giá cả, áp lực cạnh tranh... chị em đã mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, chủ động nghiên cứu và áp dụng các công trình khoa học để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đa dạng ngành nghề, tăng sản phẩm có giá trị kinh tế cho tiêu dùng, xuất khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông thôn, làm giàu cho gia đình và đất nước.

Trong công nghiệp, xây dựng chiếm 36,69%1, lực lượng lao động nữ đã góp phần tăng tỷ trọng giá trị công nghiệp và xây dựng đến năm 2006 lên 41,52% GDP [2]. Là lực lượng đông đảo trong các ngành chế biến, dệt may, da giày, tiểu thủ công nghiệp..., chị em không ngừng nghiên cứu, cải tiến, ứng dụng khoa học công nghệ, sản xuất ra nhiều sản phẩm phong phú, chất lượng cao, khẳng định thương hiệu Việt Nam, góp phần tăng tiêu dùng trong nước và tăng kim ngạch xuất khẩu.

Với 51,8% lao động trong các ngành dịch vụ [1] và 53,98% lao động trong các doanh nghiệp[3], 25% chủ doanh nghiệp[4],
phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò quan trọng, nhất là trong lĩnh vực thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, bưu chính viễn thông... Chị em đã không ngừng học tập nâng cao trình độ, ứng dụng công nghệ hiện đại, năng động đổi mới phương thức kinh doanh, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, góp phần đưa tỷ trọng các ngành dịch vụ đến năm 2006 đạt 38,08% GDP [2[.

2. Trong lĩnh vực văn hoá, xã hội

Chiếm tỷ lệ 69% lao động toàn ngành, phụ nữ ngành Giáo dục -Đào tạo [1] đã thi đua dạy tốt, học tốt, phấn đấu giỏi việc trường, đảm việc nhà, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục quốc gia, hạn chế tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục. Nữ tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân ngày càng tăng; nhiều học sinh, sinh viên nữ đỗ thủ khoa, đạt giải cao trong các kỳ thi quốc gia, quốc tế. Phụ nữ các vùng miền tích cực tham gia học tập bằng nhiều hình thức để nâng cao trình độ và luôn chăm lo đến việc học tập của con cái. Nhiều bà mẹ hoàn cảnh khó khăn đã nỗ lực để con em được đến trường. Sự phấn đấu của phụ nữvà đóng góp của toàn xã hội đã tạo nên sự chuyển biến tích cực cho nền giáo dục nước nhà.

Trong
khoa học, công nghệ và môi trường, đội ngũ cán bộ khoa học nữ ngày càng trưởng thành và có nhiều đóng góp tích cực. Số đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp bộ, ngành do phụ nữ chủ trì và tham gia ngày càng tăng, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng chính sách, ứng dụng vào sản xuất... Nhiều chị vinh dự được nhận giải thưởng về khoa học, công nghệ. Phụ nữ ngày càng chủ động tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật, tích cực tham gia bảo vệ môi trường sinh thái.

Trong
công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, chiếm 57,2% lực lượng lao động ngành y tế [1], chị em đã phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn,rèn luyện y đức, đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Trong gia đình, phụ nữ đã phát huy vai trò quan trọng chăm sóc sức khoẻ các thành viên, thực hiện chính sách dân số, phòng chống HIV/AIDS....

Trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, báo chí, thể dục thể thao,đội ngũ nữ văn nghệ sĩ, nhà báo, biên tập viên, huấn luyện viên, vận động viên đã phát huy tài năng, trí tuệ đóng góp cho sựphát triển văn hoá, thông tin, nghệ thuật, thể thao nước nhà.Phong trào phụ nữ tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng ngày càng phát triển. Đặc biệt, với thành tích xuất sắc, đội bóng đá, bóng chuyền nữ và nhiều nữ vận động viên đã làm rạng danh đất nước trong thi đấu thể thao khu vực và quốc tế.

Thành tựu xoá đói giảm nghèo của đất nước những năm qua có sự đóng góp to lớn của phụ nữ. Với ý chí và quyết tâm không cam chịu đóinghèo, lạc hậu, chị em đã nỗ lực lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, đoàn kết giúp nhau giải quyết việc làm, tăng thu nhập. Ngày càng có nhiều phụ nữ vượt nghèo thành công, vươn lên làm giàu bằng sức lao động sáng tạo và nghị lực của chính mình, được cộng đồng, xã hội tôn vinh. Phát huy truyền thống tương thân tương ái, phụ nữ cả nước đã đóng góp tích cực vào các hoạt động vì người nghèo. Nhiềutập thể, cá nhân đã trở thành những điển hình tiên tiến trên mặt trận chống đói nghèo.

Hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện được các tầng lớp phụ nữ cả nước tích cực tham gia thường xuyên, có hiệu quả. Năm năm qua, chị em đã quyên góp ủng hộ hàng trăm tỷ đồng làm nhà tình nghĩa, nhà tình thương, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, khó khăn hoạn nạn... Nhiều việc làm từ thiện của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ tôn giáo, đã góp phần giảm bớt nỗi đau cho những người bất hạnh.

Là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người, phụ nữ có vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam, thực hiện cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá.Trước tác động nhiều mặt của cơ chế thị trường, phụ nữ vừa phấn đấu lao động, công tác, vừa chăm lo nuôi dạy con, bảo vệ gia đình trước nguy cơ của tệ nạn xã hội. Với tấm lòng nhân ái, nhiều phụ nữ đã tình nguyện trở thành người mẹ của những đứa con bất hạnh, cơ nhỡ, giúp các em có được tổ ấm gia đình, góp phần cùng xã hội chăm sóc giáo dục trẻ em.

3. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh phụ nữ lực lượng vũ trang đã tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, mưu trí, dũng cảm vượt qua khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ. Phụ nữ cả nước đã tham gia đấu tranh chống âm mưu diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; tham gia giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phòng chống tội phạm; tham gia dân quân tự vệ, động viên chồng con thực hiện nghĩa vụ quân sự. Phụ nữ tại các địa bàn xung yếu, biên giới, hải đảo, đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số, đã nêu cao cảnh giác, tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.

Phát huy quyền làm chủ, các tầng lớp phụ nữ đã tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; thực hiện chủ trương, Nghị quyết của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước, góp phần vào thành công của cuộc bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và Đại biểu Quốc hội khoá XII; xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
các quy ước, hương ước của địa phương, nội qui, quy chế của cơ quan, đơn vị. Trên một số lĩnh vực, trong các cơ quan dân cử, ở cấp cơ sở đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý, nữ đảng viên đã tăng về số lượng và chất lượng.

4. Trong lĩnh vực đối ngoại và hợp tác quốc tế

Thực hiện chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước, phụ nữ Việt Nam đã chủ động tham gia, đóng góp có hiệu quả vào các hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế của đất nước. Tại các diễn đàn, hội thảo, hội nghị quốc tế, chị em đã tích cực tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về đất nước, con người và phụ nữ Việt Nam.
Hoạt động nhân đạo, bảo vệ hoà bình, đoàn kết và hữu nghị với nhân dân và phụ nữ các nước trên thế giới được phụ nữhưởng ứng tích cực. Với sự năng động, sáng tạo, phụ nữ có đóng góp không nhỏ vào thành tựu kinh tế đối ngoại của đất nước, góp phần mở rộng thị trường ngoài nước, tăng kim ngạch xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, thu hút khách du lịch quốc tế… Những đóng góp của phụ nữ trong lĩnh vực đối ngoại, đặc biệt là chị em công tác trong ngành ngoại giao, đã góp phần nâng cao vai trò, vị thế của đất nước, của phụ nữ Việt Nam trên trường quốc tế.

 

II. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG

CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM

Giữ vững và phát huy vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ, nhiệm kỳ qua, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đoàn kết, động viên cán bộ, hội viên, phụ nữ cả nước nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ IX.

1. Tổ chức, động viên phụ nữ thực hiện tốt phong trào thi đua và các hoạt động chăm lo, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ.

1.1. Tổ chức vận động phụ nữ cả nước thực hiện tốt các phong trào thi đua yêu nước, trọng tâm là phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”.

Với nội dung thiết thực, phù hợp, phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” đã được các cấp Hội tập trung chỉ đạo triển khai sâu rộng đến 100% cơ sở, được cán bộ, hội viên và các tầng lớp phụ nữ hưởng ứng thực hiện. Phong trào đã đi vào cuộc sống của các tầng lớp phụ nữ, trở thành động lực thúc đẩy chị em vượt qua khó khăn, phát huy phẩm chất tốt đẹp, khả năng sáng tạo, nâng cao vai trò của phụ nữ, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Từ phong trào thi đua do Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IX phát động, các cấp Hội đã năng động sáng tạo, bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, cụ thể hoá thành nhiều phong trào với nội dung thi đua phong phú, đa dạng. Tổng kết 5 năm thực hiện phong trào thi đua đã có gần 7 triệu hội viên đạt 3 tiêu chuẩn phong trào thi đua năm năm liền.

Cùng với phong trào thi đua yêu nước của Hội và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, các phong trào vì người nghèo, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện, xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa... được các cấp Hội triển khai với nhiều hình thức, các tầng lớp phụ nữ hưởng ứng thực hiện có hiệu quả.

Tác động lớn nhất của các phong trào thi đua yêu nước là đã khích lệ, động viên, nâng cao nhận thức, khơi dậy tính tự giác, tinh thần trách nhiệm của phụ nữ đối với sự tiến bộ, phát triển của bản thân, gia đình và cộng đồng.

1.2. Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, năng lực, trình độ mọi mặt của phụ nữ được xã hội hóa và nhiều tiến bộ.

Công tác tuyên truyền, giáo dục của Hội được đổi mới về nội dung và hình thức, ngày càng đáp ứng được nhu cầu, sự quan tâm của phụ nữ.Nội dung tuyên truyền phong phú, bám sát nhiệm vụ chính trị của đất nước và tập trung vào những vấn đề liên quan mật thiết đến phụ nữ. Hình thức tuyên truyền được đa dạng hoá, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại: truyền thông trực tiếp tại địa bàn dân cư, thông qua các lễ hội, các hình thức sân khấu, tài liệu, sách, báo, tạp chí, tờ Thông tin phụ nữ, trên các kênh thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử, gắn tuyên truyền nâng cao nhận thức với tổ chức hoạt động can thiệp, thay đổi hành vi... Mạng lưới cộng tác viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên được quan tâm xây dựng, phát triển đến các thôn/bản.

Công tác giáo dục truyền thống được đặc biệt quan tâm.
Nhân các sự kiện lớn của đất nước, của Hội, đặc biệt kỷ niệm 75 năm thành lập Đảng, 60 năm thành lập nước, 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, 30 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước... nhiều cấp Hội đã tổ chức các hoạt động về nguồn, gặp mặt nhân chứng lịch sử,đóng góp tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá... gắn với các hoạt động thiết thực, có tác dụng giáo dục, cổ vũ tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống của các tầng lớp phụ nữ.

Các cấp Hội có nhiều biện pháp khuyến khích cán bộ, hội viên, phụ nữ học tập dưới mọi hình thức nhằm nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức xã hội. Công tác xoá mù chữ cho phụ nữ và cán bộ cơ sở dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở được phối hợp với ngành giáo dục, bộ đội biên phòng và lồng ghép trong các hoạt động tín dụng tiết kiệm, xoá đói giảm nghèo. Nhiều
địa phương đã tích cực vận động phụ nữ tham gia dúng gúp quỹ khuyến học, xây dựng quỹ học bổng, tổ chức lớp học tình thương, hỗ trợ trẻ em nghèo vượt khó học tập.

Công tác tuyên truyền điển hình tiên tiến của phụ nữ ngày càng được chú trọng thông qua các hội nghị biểu dương, giao lưu và trao tặng các giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Kovalepxcai, Bông hồng vàng... được tổ chức hàng năm, đã góp phần động viên, khuyến khích, tôn vinh tập thể, cá nhân phụ nữ có thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực. Trong nhiệm kỳ, đã có 4 tập thể, 4 cá nhân được nhận giải thưởng Kovalepxcaia; 13 tập thể, 19 cá nhân được nhận giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, 57 nữ doanh nhân được nhận giải thưởng Bông hồng vàng và gần 300 phụ nữ tài năng toàn quốc thời kỳ đổi mới.

1.3. Hỗ trợ tích cực, hiệu quả giúp phụ nữ xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu chính đáng.

Hoạt động hỗ trợ phụ nữ xoá đói giảm nghèo tiếp tục được các cấp Hội thực hiện trên cơ sở phát huy nội lực, tinh thần hợp tác, tương thân, tương ái; coi trọng tính hiệu quả, bền vững, ưu tiên hộ nghèo do phụ nữ làm chủ. Phong trào phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, làm nhà tình thương do Hội phát động được triển khai rộng khắp ở các tỉnh/thành. Ngoài việc vận động hội viên, phụ nữ đóng góp cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng nhà đại đoàn kết, các cấp Hội đã trực tiếp vận động được trên 76 tỷ đồng xây dựng nhà tình thương giúp phụ nữ nghèo xoá nhà ở tạm. Chỉ tính riêng năm 2005, hưởng ứng đợt thi đua đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ phát động, các cấp Hội đã vận động xây dựng mới và sửa chữa nâng cấp 2.713 ngôi nhà cho phụ nữ nghèo.

Hoạt động khai thác nguồn vốn hỗ trợ phụ nữ được mở rộng về quy mô và chú trọng về chất lượng, hiệu quả. Thông qua các mô hình vay vốn uỷ thác từ Ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ Tình thương, tín dụng Việt - Bỉ và các mô hình lồng ghép khác, Hội LHPN Việt Nam đã tham gia quản lý trên 42.000 tỷ đồng, giúp cho gần 17 triệu lượt phụ nữ vay phát triển sản xuất, kinh doanh có hiệu quả với tỷ lệ hoàn trả trên 98%. Đặc biệt, các cấp Hội đã thực hiện uỷ thác cho phụ nữ nghèo vay vốn chiếm tỷ trọng 36,8% tổng dư nợ của Ngân hàng Chính sách xã hội, với số dư nợ đạt 10.430 tỷ đồng [5], . Hội LHPN Việt Nam đã trở thành chỗ dựa vững chắc trong hỗ trợ vốn vay cho phụ nữ và là đối tác tin cậy của nhiều tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.

Các cấp Hội đã tích cực phối hợp với ngành chuyên môn duy trì và đẩy mạnh hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật, khuyến nông, lâm, ngư, xây dựng mô hình điểm, mô hình trình diễn, tổ chức học tập trao đổi kinh nghiệm. Các câu lạc bộ, hội thi phụ nữ với khuyến nông, câu lạc bộ quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)... được tổ chức ở nhiều địa phương trong cả nước, có tác dụng thiết thực giúp phụ nữ nghèo sử dụng vốn vay có hiệu quả.

Để giúp phụ nữ có việc làm ổn định, thoát nghèo bền vững, các cấp Hội đã đẩy mạnh hoạt động dạy nghề, giới thiệu việc làm và tham gia xuất khẩu lao động. Đến nay trong toàn hệ thống Hội đã có 35 trung tâm dạy nghề, trung tâm giới thiệu việc làm. Hầu hết các trung tâm đã được đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và ngày càng hoạt động có hiệu quả. Nhiều tỉnh, thành Hội năng động, sáng tạo trong đào tạo nghề cho phụ nữ nông dân, phụ nữ tàn tật, phụ nữ tái hoà nhập cộng đồng; gắn đào tạo với cung ứng lao động cho các khu công nghiệp, doanh nghiệp và xuất khẩu lao động.

Được sự quan tâm của Chính phủ, Trung tâm Phụ nữ và Phát triển được xây dựng, đã đi vào hoạt động; Trường Trung cấp nghề Lê Thị Riêng cùng ba Trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm khu vực của Hội được thành lập và đầu tư xây dựng, mở ra nhiều cơ hội đào tạo nghề và việc làm cho phụ nữ. Năm năm qua, các tỉnh/thành Hội đã tổ chức đào tạo nghề cho trên 600.000 lượt phụ nữ, tư vấn nghề, tư vấn việc làm cho trên 700.000 lượt phụ nữ, cung ứng lao động cho trên 300.000 phụ nữ, giúp chị em có việc làm ổn định, góp phần thực hiện chỉ tiêu đào tạo nghề và việc làm quốc gia.

Với quyết tâm cao, chỉ đạo tập trung, bằng nhiều hình thức, trong 5 năm đã có trên 4 triệu lượt hộ nghèo, trong đó gần 1,7 triệu lượt hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được Hội giúp đỡ, trên 800.000 hộ thoát nghèo, trong đó gần 50% hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ, góp phần đáng kể vào thành tựu chung về giảm nhanh tỉ lệ hộ nghèo của cả nước.

Không chỉ giúp phụ nữ thoát nghèo, nhiệm kỳ qua, hoạt động hỗ trợ, khuyến khích phụ nữ khởi sự và phát triển doanh nghiệp được triển khai trên diện rộng. Hội đã hỗ trợ tập huấn kiến thức, kỹ năng quản lý doanh nghiệp cho 131.248 nữ chủ doanh nghiệp, chủ hộ kinh doanh nhỏ; tổ chức tri?n lóm, h?i ch?, nghiên cứu đề xuất chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nữ... 759 câu lạc bộ nữ chủ doanh nghiệp được thành lập tại cấp tỉnh và huyện, đã bước đầu hình thành được mạng lưới liên kết trong nữ doanh nhân và giữa doanh nhân nữ với tổ chức Hội.

1.4. Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội.

Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc là chương trình trọng tâm được các cấp Hội chỉ đạo lồng ghép chặt chẽ trong triển khai thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, gắn với cuộc vận động “Xây dựng gia đình văn hoá”, Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và Nghị quyết số 07 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam về “Một số vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ và trẻ em gái”. Với phương châm lấy gia đình là trung tâm, là đối tượng đích để tác động, các hoạt động tuyên truyền giáo dục phẩm chất đạo đức, nâng cao năng lực và trình độ của phụ nữ; hỗ trợ phụ nữ xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế; tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới... của các cấp Hội đều nhằm tập trung tạo điều kiện, hỗ trợ phụ nữ có kiến thức, kỹ năng xây dựng gia đình theo các tiêu chí no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Các thông điệp truyền thông, các mô hình tổ, nhóm, câu lạc bộ phụ nữ cam kết “Gia đình không có người thân phạm tội và mắc tệ nạn xã hội”, “Phòng chống ma tuý từ gia đình”, “Gia đình không có con bỏ học giữa chừng”, “Gia đình không có con suy dinh dưỡng”, “Gia đình không có bạo lực”, “Gia đình không sinh con thứ ba”, “Xây dựng gia đình hạnh phúc”... được các cấp Hội tập trung tuyên truyền, xây dựng và tổ chức thực hiện tại hầu hết các địa phương.

Trước các hành vi vi phạm quyền và nhân phẩm của phụ nữ, các cấp Hội đã đề ra nhiều giải pháp tăng cường công tác chỉ đạo, lãnh đạo của Hội LHPN các cấp về đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục, xây dựng mô hình can thiệp hỗ trợ phòng chống mại dâm, HIV/AIDS, buôn bán phụ nữ trẻ em, bạo lực gia đình và kết hôn với người nước ngoài bất hợp pháp.

Hầu hết các hoạt động của Hội đều trực tiếp hoặc gián tiếp hướng tới xây dựng gia đình thông qua việc tác động, hỗ trợ hội viên, phụ nữ. Kết quả các hoạt động đó đã góp phần khẳng định vai trò, vị trí của người phụ nữ và nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội đối với việc xây dựng gia đình và thực hiện các mục tiêu quốc gia về chiến lược gia đình, dân số, sức khoẻ, hạn chế các tệ nạn xã hội.

2. Chủ động đề xuất xây dựng luật pháp, chính sách và tham gia giám sát việc thực hiện luật pháp chính sách, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ.

Nét nổi bật trong nhiệm kỳ là Hội đã tích cực chủ động đề xuất, tham mưu với Đảng và Nhà nước ban hành các chỉ thị, nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ. Sự ra đời của Nghị định số 19/2003/NĐ - CP (ngày7/3/2003) Quy định trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước trong việc đảm bảo cho các cấp Hội LHPN Việt Nam tham gia quản lý Nhà nước”, Luật Bình Đẳng giới và Nghị quyết số 11/NQ-TW của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” là sự kiện quan trọng đánh dấu bước trưởng thành của tổ chức Hội trong thực hiện vai trò đại diện xây dựng luật pháp, chính sách về bình đẳng giới.

Thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng luật pháp chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chức năng giám sát, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, các cấp Hội đã đề xuất nhiều ý kiến và được tiếp thu như: Quy định tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, chính sách Bảo hiểm xã hội, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi tên cả vợ và chồng, lồng ghép giới trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2006 - 2010...

Các cấp Hội thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng, đặc biệt là Uỷ ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp
giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách, Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010. Công tác hoà giải, tư vấn pháp luật, giải quyết đơn thư, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của phụ nữ ngày càng được các cấp Hội chú trọng thực hiện có hiệu quả hơn, góp phần cải thiện, đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ. Công tác vận động phụ nữ tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô, tham nhũng được quan tâm chỉ đạo triển khai.

Hoạt động nghiên cứu khoa học của các cấp Hội được quan tâm thực hiện. Nhiều vấn đề thực tiễn được tập trung nghiên cứu, khảo sát như: công tác cán bộ nữ, bình đẳng giới trong gia đình, bạo lực gia đình, hỗ trợ phụ nữ xoá đói giảm nghèo, lao động nữ khu vực nông thôn, khu công nghiệp... Kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học đã góp phần tạo cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc tham mưu, đề xuất và tham gia xây dựng luật pháp, chính sách.

3. Công tác củng cố, phát triển tổ chức Hội đạt nhiều kết quả.

Xác định rõ củng cố và phát triển tổ chức Hội là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt, các cấp Hội từ Trung ương đến địa phương đã tập trung chỉ đạohướng mạnh các hoạt động về cơ sở, đặc biệt chú trọng công tác củng cố tổ chức cơ sở Hội với phương châm “Nơi nào có phụ nữ, nơi đó có tổ chức Hội”, “Xoá thôn bản chưa có tổ chức Hội, xoá hộ gia đình chưa có hội viên”. Trong chỉ đạo, chú trọngxây dựng mô hình mới, đa dạng hóa các hình thức tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, ưu tiên địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, quan tâm đến đối tượng phụ nữ dân tộc thiểu số, tôn giáo, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn. Những nỗ lực đầu tư cho cơ sở cùng với các hoạt động thiết thực chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, các hình thức tập hợp đa dạng phù hợp với các đối tượng phụ nữ, đã có tác dụng thu hút các tầng lớp phụ nữ tham gia hoạt động Hội, góp phần nâng độ đồng đều của phong trào. Tỷ lệ tập hợp phụ nữ vào tổ chức Hội đạt 63,62%, vượt 8,68% so với chỉ tiêu đề ra, tăng 13,62% so với nhiệm kỳ trước; 75,34% hộ gia đình có phụ nữ từ 18 tuổi trở lên có hội viên; cơ sở Hội khá và xuất sắc đạt 95,2%, vượt 15,2% so với chỉ tiêu đề ra, giảm số cơ sở yếu.

Hội LHPN các cấp đã có nhiều giải pháp nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ như: chủ động xây dựng và thực hiện quy hoạch, xây dựng kế hoạch, khai thác nguồn lực, mở rộng hoạt động đào tạo của Trường Cán bộ phụ nữ Trung ương, phối hợp với các Trường Chính trị, Trung tâm đào tạo, các dự án... để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đảm bảo tiêu chuẩn, chức danh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Hội. Trình độ đội ngũ cán bộ được nâng lên rõ rệt, 100% cán bộ phong trào cấp Trung ương; 89% cán bộ chủ chốt cấp tỉnh có trình độ đại học, 88,6% có trình độ lý luận chính trị cao cấp trở lên; giảm đáng kể số cán bộ chủ chốt cơ sở mù chữ.

Tổ chức bộ máy các cấp Hội được kiện toàn
trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, các quy chế, quy định đã giúp cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ kịp thời, nề nếp, khoa học, chuyên môn hoá, đáp ứng yêu cầu hiệu quả hoạt động của bộ máy.

Là nhiệm kỳ đầu tiên thực hiện công tác kiểm tra theo Điều lệ Hội, các cấp Hội đã xây dựng các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra. Phát hiện, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện vi phạm Điều lệ, Nghị quyết, quy định của Hội, góp phần nâng cao ý thức chấp hành Điều lệ, Nghị quyết, tăng cường trách nhiệm quản lý tài chính của Hội và xây dựng tổ chức Hội.

Công tác cán bộ nữ tiếp tục được các cấp Hội chú trọng trong chỉ đạo và thực hiện. Hội đã tích cực chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng tổng kết đánh giá Chỉ thị 37/CT-TW của Ban Bí thư về “Một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”, Nghị quyết số 04/NQ-TW của Bộ Chính trị về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” và tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy. Các cấp Hội đã chủ động phối hợp tổ chức các hoạt động nâng cao kiến thức và kỹ năng cho các nữ ứng cử viên Quốc hội và Hội đồng nhân dân; thường
xuyên phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, giới thiệu phụ nữ ưu tú, góp phần tạo nguồn cán bộ nữ cho Đảng.

4. Hoạt động hữu nghị, hợp tác quốc tế của Hội được đẩy mạnh và phát triển

Quán triệt chủ trương của Đảng về tăng cường và mở rộng công tác đối ngoại nhân dân, trong nhiệm kỳ qua, hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế của Hội được đẩy mạnh và phát triển. Cùng với sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Hội và sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan, các cấp Hội đã chủ động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, phụ nữ và tổ chức các hoạt động đối ngoại nhân dân phù hợp với điều kiện của địa phương.

Quan hệ song phương với các nước được tăng cường, đặc biệt quan hệ với tổ chức phụ nữ các nước láng giềng và quan hệ truyền thống với Hội Phụ nữ Cu Ba. Hội đã tiếp tục ký kết thoả thuận hợp tác với Hội phụ nữ Lào, Hội Phụ nữ Campuchia vì hoà bình và phát triển, Hội Phụ nữ Belarus, Hội Phụ nữ Nga ... Các hoạt động hợp tác, giao lưu, trao đổi thông tin giữa Hội và các tổ chức đối tác nước ngoài được đẩy mạnh. Trung ương Hội LHPN Việt Nam đã hỗ trợ có hiệu quả cho Hội phụ nữ Lào trong đào tạo cán bộ, hỗ trợ xây dựng mô hình xoá đói giảm nghèo tại 2 tỉnh, phối hợp với Hội phụ nữ Lào tổ chức thành công cầu truyền hình “Hai chị em”,
góp phần giữ gìn và phát triển mối quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt giữa phụ nữ hai nước.

Quan hệ đa phương của Hội được củng cố và phát triển. Vai trò, vị trí của Hội là thành viên Ban lãnh đạo Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế (WIDF), Chủ tịch Mạng lưới Lãnh đạo nữ (WLN) APEC 2006, Tổng Thư ký (2004 - 2006) và Phó Chủ tịch (2006 - 2008) Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN (ACWO) được khẳng định. Hội đã đăng cai tổ chức thành công Cuộc họp Ban Lãnh đạo Liên Phụ nữ dân chủ quốc tế 2002, Cuộc họp Liên đoàn phụ nữ dân chủ khu vực Châu á - Thái Bình Dương năm 2003, Cuộc họp Mạng lưới lãnh đạo nữ APEC năm 2006 được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Hội đã tham gia tích cực trong tiến trình đánh giá 10 năm thực hiện Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh vì bình đẳng giới, phát triển và hoà bình của khu vực Châu á - Thái Bình dương và quốc tế; tham gia cùng Uỷ ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực hiện Công ước CEDAW. Đến nay, Hội đã có quan hệ với trên 300 tổ chức quốc tế và khu vực tại 67 nước, góp phần thúc đẩy sự hiểu biết, quan hệ hợp tác giữa nhân dân và phụ nữ Việt Nam với các nước trên thế giới.

Các cấp Hội đã tích cực vận động phụ nữ tham gia hoạt động đoàn kết quốc tế vì hoà bình và nhân đạo, đấu tranh bảo vệ công lý cho nạn nhân chất độc da cam, đấu tranh bảo vệ an ninh biên giới và xây dựng đường biên hoà bình, hữu nghị. Hoạt động bảo vệ nhân phẩm, quyền lợi chính đáng của phụ nữ Việt Nam trong giao dịch kinh tế và hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, phòng chống buôn bán phụ nữ trẻ em được tích cực triển khai trên cơ sở hợp tác với các nước trong khu vực.

Các cấp Hội
đã chủ động khai thác các nguồn lực từ cộng đồng quốc tế tập trung cho các hoạt động nâng cao năng lực, tài chính vi mô, phát triển doanh nghiệp, bình đẳng giới, phòng chống HIV/AIDS, phát triển cộng đồng, hỗ trợ phụ nữ cao tuổi… Các hoạt động hợp tác quốc tế đã góp phần xây dựng nhiều mô hình mới, tập hợp, thu hút hội viên, nâng cao năng lực cán bộ và thực hiện đường lối đối ngoại nhân dân của Đảng, Nhà nước.

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Đánh giá chung

5 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp phụ nữ trên khắp mọi miền của đất nước đã đoàn kết phấn đấu, năng động, sáng tạo, tự tin phát huy sức mạnh nội lực, giá trị truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam,đóng góp quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong vai trò người vợ, người mẹ, với tấm lòng thuỷ chung, nhân hậu, phụ nữ đã cùng nam giới xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước.

Phụ nữ Việt Nam ngày càng trưởng thành về mọi mặt. Trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, địa vị của phụ nữ trong gia đình và xã hội được nâng lên. Quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng được thực hiện đầy đủ hơn. Đời sống vật chất, tinh thần và sức khoẻ của đại bộ phận chị em được cải thiện.

Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã giữ vững vai trò nòng cốt trong phong trào phụ nữ. Bám sát chức năng của Hội, nhiệm vụ chính trị của đất nước, các cấp Hội đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt hơn vai trò đại diện quyền làm chủ của phụ nữ; chủ động tham mưu với Đảng, Nhà nước ban hành một số chính sách, luật pháp có ý nghĩa chiến lược về công tác phụ nữ, cán bộ nữ và bình đẳng giới. Với phương châm hướng về cơ sở, tập trung cho các vùng trọng điểm, vùng dân tộc, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, nơi còn nhiều khó khăn, các cấp Hội đã xây dựng được nhiều mô hình mới, tổ chức nhiều hoạt động thiết thực chăm lo, bảo vệ phụ nữ, phù hợp với nhu cầu, tình cảm, nguyện vọng của đông đảo phụ nữ.

Sau một nhiệm kỳ nỗ lực phấn đấu, mục tiêu và hầu hết các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ IX đề ra đã đạt và vượt, các cấp Hội đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Hội LHPN Việt Nam được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Ban Chấp hành TW Hội LHPN Việt Nam được tặng Huân chương lao động hạng Nhất, các tỉnh, thành và các ban, đơn vị Trung ương Hội được tặng 65 Huân chương Độc lập, 200 Huân Chương lao động các hạng, 76 Cờ thi đua của Chính phủ và 553 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; Công ty Du lịch Hòa Bình trực thuộc Trung ương Hội LHPN Việt Nam được tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Đó là những thành tích rất đáng tự hào của toàn thể cán bộ, hội viên và phụ nữ cả nước.

Đạt được những thành tích trên là do có sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, các cấp uỷ, chính quyền địa phương; phối hợp của các bộ, ngành, Mặt trận, các đoàn thể, sự ủng hộ của toàn xã hội, sự hợp tác giúp đỡ của bạn bè quốc tế; chủ trương đúng đắn, thống nhất trong chỉ đạo của các cấp Hội. Nhân tố quan trọng là tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, quyết tâm vượt khó vươn lên của đông đảo phụ nữ cả nước, là công sức, tâm huyết, trí tuệ của đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ Hội các cấp đã kiên trì, bền bỉ phấn đấu cho sự tiến bộ của phụ nữ và sự nghiệp bình đẳng giới.

Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội LHPN Việt Nam còn
những hạn chế:

Phong trào phụ nữ phát triển chưa đồng đều ở các vùng miền. Trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp của phụ nữ còn thấp; cơ hội có việc làm và thu nhập còn hạn chế. Đời sống và sức khoẻ của một bộ phận phụ nữ còn nhiều khó khăn.

Trong nhiều doanh nghiệp, trong các khu công nghiệp tập trung, việc làm của lao động nữ thiếu ổn định, điều kiện lao động, điều kiện sống không được đảm bảo; chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động chưa được thực hiện đầy đủ.

Số phụ nữ nông thôn thiếu việc làm, di cư tự phát ra thành phố ngày càng tăng. ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán lạc hậu, tỷ lệ phụ nữ nghèo, phụ nữ mù chữ còn cao. Phụ nữ cao tuổi, đơn thân, tàn tật, có hoàn cảnh khó khăn chưa được quan tâm đúng mức.

Cơ chế thị trường và quá trình công nghiệp hoá đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội liên quan trực tiếp tới phụ nữ. Phụ nữ gặp nhiều khó khăn, thách thức khi thực hiện vai trò người mẹ, người thầy đầu tiên của con người.

Phẩm chất đạo đức và một số giá trị truyền thống tốt đẹp có phần bị mai một, lối sống thực dụng có xu hướng phát triển trong một bộ phận phụ nữ. Tình trạng nạo, phá thai trong nữ thanh niên, vị thành niên và lây nhiễm HIV/AIDS trong phụ nữ, trẻ em ngày càng tăng. Bạo lực gia đình, tệ nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, lấy chồng người nước ngoài vì mục đích vụ lợi diễn biến phức tạp. Phân biệt đối xử với phụ nữ, trẻ em gái vẫn còn dưới nhiều hình thức.

.Tỉ lệ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý, tham gia các cơ quan dân cử còn thấp, chưa bền vững, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ, nguồn cán bộ nữ hẫng hụt, ở một số lĩnh vực tỷ lệ cán bộ nữ sụt giảm.

Hoạt động của Hội chưa đáp ứng kịp thời những vấn đề đặt ra đối với một số đối tượng như: Lao động nữ ở các khu công nghiệp, nữ trí thức, nữ thanh niên, phụ nữ cao tuổi. Công tác giáo dục đạo đức, lối sống, vận động, hướng dẫn phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc còn lúng túng. Công tác giám sát thực hiện chính sách và bảo vệ quyền lợi phụ nữ, công tác kiểm tra việc thực hiện Điều lệ Hội chưa tiến hành thường xuyên, hiệu quả chưa cao. Việcnghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác vận động phụ nữ và nhân rộng mô hình còn hạn chế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá cán bộ Hội theo chức danh, xoá mù chữ cho cán bộ cơ sở là người dân tộc thiểu số vùng cao, vùng sâu chưa đạt chỉ tiêu đề ra.

Những hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân chủ yếu là:

Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội chưa đáp ứng yêu cầu giải quyết hiệu quả một số vấn đề thực tiễn đặt ra, nhất là những vấn đề xã hội bức xúc liên quan tới phụ nữ. Chỉ đạo của Hội ở một số nơi chưa chú trọng đúng mức việc lựa chọn vấn đề ưu tiên, còn thiếu các giải pháp cụ thể phù hợp với đặc thù đối tượng, vùng miền. Công tác nghiên cứu, dự báo còn hạn chế.Trình độ, năng lực, tư duy của một bộ phận cán bộ Hội chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, có nơi cán bộ Hội chưa sâu sát cơ sở. Một bộ phận phụ nữ còn tự ti, an phận, chưa chủ động vượt khó vươn lên, định kiến giới còn tồn tại trong xã hội.

Nhận thức và sự quan tâm lãnh đạo công tác vận động phụ nữ của một số cấp uỷ Đảng, chính quyền còn hạn chế. Việc thể chế hoá các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác phụ nữ, cán bộ nữ chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ. Chính sách chăm lo, bảo vệ bà mẹ trẻ em còn nhiều bất cập. Chế độ chính sách đối với cán bộ Hội, đặc biệt là cán bộ cơ sở vùng sâu, vùng cao, dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo chưa hợp lý. Việc tổ chức và giám sát thực hiện luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ của một số cấp chính quyền còn hạn chế.

2. Bài học kinh nghiệm:

2.1. Sự lãnh đạo sâu sát của Đảng, việc thể chế hóa thành luật pháp, chính sách và tạo điều kiện của Nhà nước, sự chủ động, sáng tạo, hiệu quả trong hoạt động của các cấp Hội, tinh thần tự chủ, đoàn kết vượt khó vươn lên của các tầng lớp phụ nữ, là những nhân tố cơ bản nhất quyết định thành công của công tác phụ nữ và sự phát triển của phụ nữ.

2.2. Vai trò, vị trí của Hội LHPN Việt Nam trong phong trào phụ nữ và hệ thống chính trị được khẳng định bằng chất lượng và hiệu quả hoạt động. Không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng: mở rộng tính liên hiệp, đa dạng các hình thức tập hợp phụ nữ phù hợp với yêu cầu thực tiễn; bám cơ sở, sâu sát hội viên, phụ nữ, chỉ đạo linh hoạt theo đặc điểm đối tượng, vùng miền, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng thiết thực của phụ nữ; có quyết tâm cao trong giải quyết các vấn đề mới và khó đặt ra đối với phụ nữ; coi trọng phát huy nội lực kết hợp với vận động khai thác các nguồn lực trong nước và quốc tế;tăng cường tổng kết rút kinh nghiệm; chú trọng xây dựng quỹ Hội; cải tiến công tác thi đua - khen thưởng... là cơ sở tạo nên chất lượng và hiệu quả hoạt động, là yêu cầu phát triển tự thân của tổ chức Hội.

2.3. Cán bộ là gốc của phong trào. Xây dựng đội ngũ cán bộ Hội các cấp, đặc biệt là cán bộ chủ chốt có bản lĩnh chính trị, có trình độ, năng lực, có phẩm chất đạo đức, tâm huyết với công tác Hội và sự nghiệp bình đẳng giới. Phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất, thương yêu giúp đỡ nhau là yếu tố quyết định sự phát triển đội ngũ cán bộ Hội và phong trào phụ nữ .

 

PHẦN THỨ HAI

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NHIỆM KỲ 2007 - 2012

 

I. MỤC TIÊU


Đoàn kết, vận động các tầng lớp phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc, chủ động tham gia phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế; nâng cao trình độ về mọi mặt, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của phụ nữ. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu. Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ. Phấn đấu để góp phần thực hiện mục tiêu: đến năm 2020, nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực.

Các chỉ tiêu cơ bản của nhiệm kỳ:

  1. 80% trở lên hội viên đăng ký thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; trong đó 70% trở lên đạt 3 tiêu chuẩn phong trào.
  2. 70% trở lên phụ nữ được tuyên truyền, phổ biến về chủ trương của Đảng, luật pháp chính sách của Nhà nước, Điều lệ và Nghị quyết của Hội, giáo dục truyền thống, đạo đức lối sống, giới và bình đẳng giới, phòng chống tệ nạn xã hội, xây dựng gia đình hạnh phúc.
  3. 60% trở lên các bà mẹ có con dưới 16 tuổi được phổ biến, hướng dẫn kiến thức, phương pháp nuôi dạy con.
  4. 70% trở lên phụ nữ nghèo được Hội giúp xoá đói giảm nghèo.
  5. Hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 50 ngàn lao động nữ, tăng dần tỷ lệ lao động nữ được đào tạo dài hạn.
  6. Tăng số cơ sở Hội khá và xuất sắc, giảm đáng kể số cơ sở Hội yếu kém; 90% trở lên Hội LHPN xã xây dựng được lực lượng hội viên nòng cốt và quỹ Hội tại các chi Hội.
  7. Phát triển hội viên tăng 5% trở lên so với tổng số hội viên đầu nhiệm kỳ; 80% hộ gia đình có phụ nữ từ 18 tuổi trở lên có ít nhất 1 hội viên; 70% trở lên hội viên tham gia sinh hoạt thường xuyên và đóng hội phí.
  8. 100% Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội LHPN cấp tỉnh/thành, chủ tịch Hội LHPN cấp huyện/thị, 90% Chủ tịch Hội LHPN cấp xã, ở độ tuổi dưới 45, đạt tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức theo quy định.

II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1. Nâng cao nhận thức, trình độ, năng lực của phụ nữ đáp ứng yêu cầu tình hình mới; xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu.

1.1. Tuyên truyền, phổ biến và vận động phụ nữ thực hiện luật pháp, chính sách, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội.

- Tuyên truyền, phổ biến chủ trương, nghị quyết của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước cho cán bộ, hội viên, phụ nữ, chú trọng các lĩnh vực: lao động- việc làm, giáo dục- đào tạo, xoá đói giảm nghèo, hôn nhân - gia đình, sức khoẻ sinh sản, bảo vệ bà mẹ - trẻ em, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, đất đai, môi trường, an toàn giao thông, quan hệ dân sự, bảo hiểm xã hội, dân tộc, tôn giáo.

- Tập trung tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Luật Bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, nâng cao nhận thức về giới và trách nhiệm thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới cho cán bộ, hội viên, phụ nữ và cộng đồng.

- Vận động phụ nữ tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội ở các cấp, các ngành, đơn vị và địa bàn dân cư. Giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, chính sách đại đoàn kết dân tộc cho cán bộ, hội viên, phụ nữ. Tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, phát hiện và giải quyết kịp thời các mâu thuẫn tại cộng đồng góp phần giữ gìn an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Vận động hội viên, phụ nữ không tham gia bạo động, khiếu kiện đông người, vượt biên trái phép.

1.2. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Vận động, hướng dẫn phụ nữ phấn đấu rèn luyện theo các tiêu chí: có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu. Động viên chị em phát huy truyền thống tốt đẹp, tinh thần tự chủ, đoàn kết, khắc phục tâm lý tự ti, an phận, vượt khó vươn lên; nâng cao ý thức và năng lực làm chủ, đề cao lòng tự trọng, ý thức bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc trong điều kiện hội nhập. Gắn nội dung xây dựng người phụ nữ với việc thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

- Vận động phụ nữ tích cực học tập, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp. Phối hợp cùng các ngành chức năng tiếp tục thực hiện xoá mù chữ cho phụ nữ và phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở cho cán bộ Hội cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng cao; có giải pháp tích cực chống tái mù chữ cho phụ nữ.

- Chú trọng công tác phát hiện, bồi dưỡng, nhân điển hình phụ nữ tiên tiến.Duy trì, phát triển Quỹ Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Giải thưởng Kovalepxkaia. Phối hợp cùng các ngành, đoàn thể, doanh nghiệp tổ chức các hình thức biểu dương, tôn vinh phụ nữ tiêu biểu trên các lĩnh vực.

1.3. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, vận động, truyền thông, tư vấncủa các cấp Hội.

-Phối hợp cùng các ngành chức năng xây dựng và thực hiện Đề án tuyên truyền, giáo dục pháp luật và phẩm chất đạo đức cho phụ nữ.

- Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ tuyên truyền viên, báo cáo viên đáp ứng yêu cầu tuyên truyền trực tiếp kết hợp với tư vấn tại cộng đồng. Xây dựng, đa dạng hoá các sản phẩm truyền thông, tài liệu tuyên truyền, giáo dục theo chuyên đề và phục vụ sinh hoạt hội viên theo chủ đề, phù hợp với nhóm đối tượng.

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan thông tin tuyên truyền của Hội. Đẩy mạnh phong trào đọc, tìm hiểu sách báo trong phụ nữ; phấn đấu mỗi cơ sở Hội có một tủ sách, báo, tài liệu. Cung cấp Báo phụ nữ Việt Nam, Thông tin Phụ nữ cho các xã đặc biệt khó khăn.

2- Tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới.

2.1. Tham gia xây dựng luật pháp, chính sách

- Chủ động tham mưu đề xuất với Đảng và Nhà nước những vấn đề liên quan đến công tác phụ nữ và các chính sách đặc thù nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ theo tinh thần Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; đặc biệtquan tâm các đối tượng: phụ nữ nông thôn không còn đất canh tác, phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ cao tuổi, phụ nữ tàn tật, phụ nữ đơn thân có hoàn cảnh khó khăn, lao động nữ dôi dư khi cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, lao động nữ làm việc tại các khu công nghiệp tập trung.

- Nghiên cứu, đề xuất, tham gia xây dựng hệ thống chính sách về gia đình thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo tiêu chí “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”. Chú trọng các chính sách về dân số- kế hoạch hoá gia đình; chăm sóc bảo vệ bà mẹ - trẻ em; chế độ thai sản đối với phụ nữ nghèo không có bảo hiểm xã hội; bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; phát triển hệ thống phúc lợi, dịch vụ gia đình, nhà trẻ - mẫu giáo; cải thiện môi trường sống. Nghiên cứu, đề xuất xây dựng luật về tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

- Phối hợp với các ngành chức năng rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung luật pháp, chính sách liên quan tới phụ nữ; chủ động đóng góp ý kiến vào dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng các cấp, các Nghị quyết của Đảng, tham gia vào quá trình xây dựng chiến lược, chương trình, dự án phát triển trên các lĩnh vực của quốc gia, ngành, địa phương nhằm bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của phụ nữ và bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới.

- Chủ động tham mưu tạo nguồn cán bộ nữ và giới thiệu quần chúng phụ nữ ưu tú cho Đảng. Đề xuất các giải pháp cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu phát triển đội ngũ cán bộ nữ theo tinh thần Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị. Đề xuất chính sách đặc thù đối cán bộ nữ công tác ở vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo, dân tộc thiểu số, cán bộ nữ đi học có con nhỏ.

- Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học của từng cấp Hội để có cơ sở khoa học đề xuất, tham gia xây dựng luật pháp, chính sách và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

2.2. Tăng cường công tác tư vấn, giám sát và thực hiện phản biện xã hội

- Củng cố, phát triển mạng lưới tư vấn pháp luật và giải quyết đơn thư của các cấp Hội. Phối hợp với ngành tư pháp tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật cho phụ nữ phù hợp với nhu cầu và điều kiện của từng cấp Hội.

- Các cấp Hội xây dựng và thực hiện kế hoạch giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, tập trung Luật Bình đẳng giới. Kịp thời phát hiện và có các biện pháp tích cực bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ khi bị vi phạm. Đề xuất và thực hiện các giải pháp cần thiết nhằm đẩy mạnh công tác phòng chống tệ nạn xã hội, tội phạm liên quan tới phụ nữ, đặc biệt là tội phạm xâm hại tình dục và buôn bán phụ nữ, trẻ em.

- Nghiên cứu, vận dụng thực hiện nhiệm vụ phản biện xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X bảo đảm thiết thực, hiệu quả, phù hợp với chức năng của Hội.

- Chăm lo bồi dưỡng trang bị kiến thức pháp luật và kỹ năng tư vấn, giám sát, phản biện xã hội cho cán bộ Hội các cấp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ.


3- Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập.


3.1. Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp giúp phụ nữ thoát nghèo hiệu quả, bền vững
:

          - Nắm vững hộ hội viên nghèo, hộ nghèo do phụ nữ làm chủ, xây dựng kế hoạch cụ thể giúp phụ nữ thoát nghèo và chống tái nghèo; tập trung giúp hộ nghèo do phụ nữ làm chủ, những nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao. Phấn đấu 90% trở lên hộ nghèo do phụ nữ làm chủ được giúp, trong đó 40% - 50% thoát nghèo.

- Tăng cường khai thác các nguồn vốn, mở rộng vốn uỷ thác từ Ngân hàng Chính sách xã hội. Chú trọng hướng dẫn quản lý, sử dụng vốn chặt chẽ, hiệu quả, kết hợp cho vay vốn với dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật và hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn. Phát triển bền vững các mô hình vay vốn - tiết kiệm, đặc biệt là Quỹ Tình thương, tín dụng Việt - Bỉ, Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo, mô hình lồng ghép.

          - Động viên phụ nữ phát huy tính chủ động, quyết tâm vượt khó, ý thức tiết kiệm; phát triển các nhóm tương trợ, nhóm tình thương, các hình thức kết nghĩa và vận động tiết kiệm trong phụ nữ để giúp nhau thoát nghèo. Tiếp tục duy trì phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế”, “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, tổ chức cuộc vận động “Giúp phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn” trong cán bộ, hội viên và các tầng lớp phụ nữ, phù hợp với điều kiện của địa phương, đơn vị.

3.2. Khuyến khích, hỗ trợ phụ nữ phát triển sản xuất, kinh doanh, làm giàu chính đáng.

            - Hỗ trợ phụ nữ phát triển các loại hình kinh doanh dịch vụ và khởi sự doanh nghiệp thông qua đào tạo, tiếp cận vốn, thông tin, thị trường, đề xuất chính sách. Tạo điều kiện để nữ doanh nhân Việt Nam tăng cường mối quan hệ, liên kết với các doanh nhân nữ trong khu vực và thế giới, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp do nữ làm chủ, nâng cao ý thức xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, tạo dựng uy tín cho doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập.

          - Đẩy mạnh khai thác nguồn vốn từ các ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý kinh tế hộ, ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp cho phụ nữ nông thôn.

           - Khuyến khích phụ nữ tham gia các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm. Vận động, hướng dẫn phụ nữ tham gia các tổ chức kinh tế hợp tác, hợp tác xã.

- Động viên, khuyến khích phụ nữ thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi và tôn vinh tài năng nữ trong lĩnh vực kinh tế.

3.3. Tăng cường đào tạo nghề, giới thiệu việc làm cho phụ nữ:

          - Tuyên truyền thay đổi nhận thức, quan niệm về định hướng nghề nghiệp và học nghề phù hợp với yêu cầu thị trường lao động trong nước và xuất khẩu; tăng cường công tác thông tin về lao động, việc làm cho phụ nữ.

         - Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động các trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm của Hội. Mở rộng hợp tác, liên kết để tăng cường đào tạo nghề, giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động nữ. Chú trọng dạy nghề, tạo việc làm cho phụ nữ nghèo, phụ nữ nông thôn khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phụ nữ tàn tật.

          - Phối hợp với các ngành chức năng xây dựng và thực hiện Đề án đào tạo nghề cho phụ nữ. Hoàn thành xây dựng và triển khai hoạt động đào tạo nghề của Trường Trung cấp nghề Lê Thị Riêng; xúc tiến thành lập Trường Trung cấp nghề khu vực miền Trung và Trường Cao đẳng nghề cho phụ nữ khu vực miền Bắc.

3.4. Phát triển bền vững hoạt động tín dụng tiết kiệm của Hội theo luật định:

Nghiên cứu, xây dựng mô hình hoạt động tín dụng tiết kiệm của Hội theo tinh thần Nghị định số 28/2005/NĐ-CP của Chính phủ, tiến tới thành lập Ngân hàng Phụ nữ khi có đủ điều kiện.

4. Hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

- Phối hợp cùng các ngành chức năng, các đoàn thể tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của phụ nữ, nam giới và cộng đồng trong xây dựng gia đình; chấp hành luật pháp, chính sách về hôn nhân gia đình và bình đẳng giới; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình Việt Nam.

- Tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện cho phụ nữ “Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”, gắn với thực hiện Nghị quyết liên tịch về “Quản lý, giáo dục con em trong gia đình không phạm tội và tệ nạn xã hội” và cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”.

Chú trọng vận động phụ nữ thực hiện nếp sống văn minh,đấu tranh xoá bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân, gia đình; tích cực tham gia phòng chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ trẻ em, kết hôn với người nước ngoài bất hợp pháp;quan tâm giúp đỡ các gia đình chính sách khó khăn, hoạn nạn, phụ nữ cao tuổi cô đơn, tàn tật, trẻ em mồ côi.

- Phổ biến, tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng cho phụ nữ về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, phòng chống HIV/AIDS, nuôi dạy con theo độ tuổi, giáo dục gia đình, tổ chức cuộc sống gia đình. Hướng dẫn kỹ năng sống cho phụ nữ trẻ và trẻ em gái vị thành niên. Phối hợp với các ngành chức năng đề xuất xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục 5 triệu bà mẹ.

- Xây dựng và nhân rộng các mô hình truyền thông, dịch vụ gia đình phù hợp với đặc điểm đối tượng, vùng miền. Phát triển các hình thức tư vấn về hôn nhân - gia đình và Trung tâm hỗ trợ kết hôn. Tham gia chủ động, tích cực vào việc củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ hoà giải tại cộng đồng. Tổ chức hội thi, diễn đàn giao lưu chia sẻ kinh nghiệm và biểu dương điển hình tiên tiến trong xây dựng gia đình.Biên soạn tài liệu, bồi dưỡng báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở về chuyên đề gia đình.

5. Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh.

5.1. Phát triển tổ chức, kiện toàn bộ máy.

- Nghiên cứu, chỉ đạo xây dựng mô hình tập hợp, phát triển các loại hình hoạt động phù hợp để mở rộng tính liên hiệp của tổ chức Hội nhằm tập hợp rộng rãi các đối tượng phụ nữ trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, chú trọng nữ thanh niên, trí thức, doanh nhân, phụ nữ cao tuổi, lao động nữ trong khu công nghiệp, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, phụ nữ Việt Nam định cư ở nước ngoài. Vận động phát triển hội viên tới từng hộ gia đình, nâng cao chất lượng hội viên.

Tập hợp các tổ chức phụ nữ Việt Nam hợp pháp ở trong nước tham gia hoạt động của Hội. Củng cố, phát triển mạng lưới Câu lạc bộ nữ doanh nhân, tiến tới thành lập Hiệp hội nữ doanh nhân Việt Nam trực thuộc Hội LHPN Việt Nam. Nghiên cứu xúc tiến việc thành lập Hiệp hội nữ trí thức Việt Nam và thí điểm hình thức tập hợp phụ nữ Việt Nam sinh sống, làm việc ở nước ngoài.

- Kiện toàn tổ chức bộ máy chuyên trách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 09/2/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X “về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”.

- Từng cấp Hội rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy chế làm việc của Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch/Ban Thường vụ; các quy định trong nội bộ cơ quan chuyên trách bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, đúng quy định pháp luật.Nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch, thông tin, báo cáo, thống kê và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cấp Hội.

5.2. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức Hội cơ sở.

- Kiện toàn thống nhất mô hình tổ chức Hội cơ sở. Rà soát, đánh giá chất lượng xếp loại tổ chức cơ sở Hội. Tập trung chỉ đạo đối với cơ sở yếu kém, vùng sâu, vùng cao, đặc biệt khó khăn, các vùng trọng điểm, khu vực đô thị. Gắn việc củng cố tổ chức Hội cơ sở với hoạt động hỗ trợ phát triển cho phụ nữ.

- Cải tiến nội dung, hình thức sinh hoạt thiết thực, sát đối tượng. Xây dựng và phát huy vai trò hội viên nòng cốt phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và đặc điểm vùng miền.

- Chủ động tạo nguồn kinh phí hoạt động, thực hiện đúng hướng dẫn về thu nộp hội phí, xây dựng quỹ Hội và đưa vào tiêu chí đánh giá thi đua hàng năm. Tiếp tục đề xuất chính sách hỗ trợ kinh phí hoạt động cho Chi hội phụ nữ thôn, bản, xóm, ấp và tương đương thuộc các xã đặc biệt khó khăn và địa điểm làm việc của Hội Liên hiệp phụ nữ xã.

5.3. Tập trung đẩy mạnh đổi mới phương thức hoạt động của các cấp Hội.

- Tiếp tục thực hiện phương châm hướng mạnh hoạt động về cơ sở, khu dân cư, chăm lo thiết thực quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho hội viên, phụ nữ. Có giải pháp cụ thể nhằm khắc phục tình trạng “hành chính hoá”, phô trương, hình thức, chạy theo thành tích. Xây dựng và thực hiện quy định về chế độ công tác cơ sở đối với cán bộ Hội chuyên trách; cải tiến và nâng cao chất lượng các đợt đi công tác cơ sở của cán bộ Hội.

- Coi trọng công tác xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động của từng cấp Hội. Xác định nhiệm vụ trọng tâm và lựa chọn vấn đề ưu tiên hợp lý trong từng thời kỳ theo các cấp độ: toàn quốc, vùng miền, đối tượng để tập trung chỉ đạo thống nhất và đầu tư nguồn lực thực hiện bảo đảm tính hiệu quả. Tăng quyền chủ động, phát huy tính sáng tạo của các cấp Hội địa phương trong việc cụ thể hoá thực hiện nhiệm vụ công tác Hội. Coi trọng chỉ đạo điểm, xây dựng mô hình và công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm.

- Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động của Hội, xây dựng cơ chế phối hợp bình đẳng, hiệu quả với các bộ, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong thực hiện các chương trình, dự án, hoạt động có liên quan tới phụ nữ. Rút kinh nghiệm mở rộng hoạt động liên kết với các doanh nghiệp trong việc chăm lo cho phụ nữ. Coi trọng việc xây dựng mạng lưới cộng tác viên, có cơ chế phù hợp để huy động sự đóng góp trí tuệ của chuyên gia cho các lĩnh vực công tác Hội.

- Chủ động phối hợp thực hiện và tổng kết 5 năm Nghị định 19/2003/NĐ/CP của Chính phủ vào năm 2008; tham mưu với Đảng, Nhà nước và các cấp ủy đảng, chính quyền tổ chức triển khai thực hiện và định kỳ đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-TW và Luật Bình đẳng giới. Chủ động phối hợp tập huấn kiến thức, kỹ năng cho nữ ứng cử viên đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

- Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong hệ thống Hội.Coi trọng công tác kiểm tra việc chấp hành Điều lệ, các Nghị quyết của Hội và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến tổ chức, cán bộ Hội.

5.4. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp

- Chủ động quy hoạch và định kỳ đánh giá cán bộ theo quy định. Xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi về một số lĩnh vực công tác phụ nữ ở cấp Trung ương và tỉnh, thành. Cán bộ Hội các cấp có kế hoạch cá nhân nhằm phấn đấu rèn luyện làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất chính trị, phương pháp vận động quần chúng cho cán bộ Hội các cấp; chú trọng cán bộ chủ chốt cấp xã/phường và huyện/quận, cán bộ dân tộc thiểu số, tôn giáo, cán bộ trẻ và cán bộ trong diện quy hoạch.

- Thực hiện đồng bộ các giải pháp đổi mới nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ Hội các cấp. Coi trọng bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội, lý luận chính trị, quản lý hành chính, kiến thức, kỹ năng, phương pháp công tác theo chuyên đề và nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội. Phổ cập tin học văn phòng cho cán bộ Hội chuyên trách cấp tỉnh và huyện; phấn đấu từng bước phổ cập tin học văn phòng cho chủ tịch, phó chủ tịch Hội LHPN cấp xã.

- Phối hợp với các ban, ngành chức năng xây dựng và thực hiện Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội LHPN cấp huyện, quận và xã, phường, thị trấn. Xây dựng và phát triển Học viện Phụ nữ Việt Nam đáp ứng yêu cầu nghiên cứu khoa học về công tác phụ nữ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội, cán bộ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

6. Mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế vì bình đẳng, phát triển và hoà bình

- Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước thực hiện các cam kết quốc tế liên quan tới quyền của phụ nữ và bình đẳng giới mà Chính phủ Việt Nam tham gia: Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, Cương lĩnh hành động Bắc Kinh vì bình đẳng, phát triển và hoà bình, Công ước Liên hiệp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ...

- Nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên, phụ nữ về đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và hoạt động đối ngoại của Hội. Thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại về đất nước, con người, phụ nữ Việt Nam và Hội LHPN Việt Nam, về luật pháp, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến phụ nữ, trẻ em. Tăng cường thông tin cho phụ nữ Việt Nam về phong trào phụ nữ thế giới, thực trạng về bình đẳng giới, kinh nghiệm và mô hình phát triển hiệu quả, bền vững của các tổ chức phụ nữ trên thế giới.

- Củng cố, tăng cường quan hệ song phương với tổ chức phụ nữ các nước láng giềng, khu vực và thế giới. Tổ chức, tham gia các hoạt động đoàn kết, hữu nghị, hợp tác qua biên giới, góp phần bảo vệ an ninh biên giới, xây dựng đường biên hoà bình, hữu nghị và phát triển. Tăng cường quan hệ đa phương với các tổ chức, thể chế liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ quốc tế và khu vực thông qua việc tham gia thích hợp vào các tổ chức, các diễn đàn khu vực và quốc tế. Tham gia phong trào đấu tranh của phụ nữ và nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, nhân đạo và bảo vệ môi trường.

- Tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi, chủ động vận động khai thác các nguồn lực quốc tế hỗ trợ các chương trình, hoạt động phát triển vì quyền và lợi ích của phụ nữ Việt Nam; quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn tài trợ quốc tế theo quy định của Nhà nước.

- Nghiên cứu, đào tạo bồi dưỡng, cung cấp thông tin nhằm hỗ trợ phụ nữ chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời quan tâm bảo vệ quyền lợi hợp pháp, nhân phẩm của phụ nữ Việt Nam trong các giao dịch quốc tế và quan hệ hôn nhân - gia đình có yếu tố nước ngoài.

- Vận động tập hợp phụ nữ Việt Nam sinh sống ở nước ngoài hướng về tổ quốc, đầu tư, đóng góp thích hợp cho các hoạt động phát triển và nhân đạo trong nước.

*

**

Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ X với tinh thần Đoàn kết - Sáng tạo - Bình đẳng - Phát triển, biểu thị niềm tin và quyết tâm của phụ nữ cả nước góp sức cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thắt chặt khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vượt qua khó khăn thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vì sự bình đẳng, tiến bộ và phát triển của phụ nữ Việt Nam./.



Ghi chú:
[1] S liu Thng kê thc trng lao động vic làm - tht nghip năm 2006 ca B LĐTBXH.

[2] Thông cáo báo chí s liu thng kê KT - XH năm 2006 - Tng cc Thng kê.

[3] Niên giám thng kê 2006 - Tng cc Thng kê.

[4] S liu các doanh nghip đã đăng ký năm 2006 do Phòng Thương mi công nghip Vit Nam qun lý và cung cp tháng 8/2007. 

[5]  Báo cáo tóm tt kết qu hot động ca Ngân hàng Chính sách Xã hi đến ngày 30/6/2007.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu liên quan:
Điều lệ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (bổ sung, sửa đổi) 

BCH TW Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

In trang Gửi tới bạn Đầu trang  Gửi phản hồi

 
Các tin khác:
Các tin tiếp theo ››  
 

"... Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà có nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy thế hệ anh hùng của nước ta...

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chủ tịch uỷ ban hành chính, bí thư chi bộ....

Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam thật là anh hùng..."

(Trích bài nói chuyện của Hồ Chủ Tịch nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam 20/10/1966).

Tin mới
 • Nhiều kinh nghiệm được chia sẻ tại Hội nghị đầu mối Giới
 • Kon Tum: Tổ chức chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”
 • Những người phụ nữ “chống trời” để giảm nhẹ thiệt hại thiên tai
 • 'Nghề may cho tôi nhiều lắm!'
 • Nâng cao quyền năng Giới, Tính bền vững và Huy động nguồn lực
ATPNTE
hotline
Cuoc thi Y tuong l3
ATGT
HVPN
TTPN
TYM

For Advertise

 

Bản quyền thuộc về Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Địa chỉ:39 Hàng Chuối - Hà Nội - Việt Nam ; Điện thoại:9713436 -  Fax: (84-4) 9713143; Email: ;Website:
http://hoilhpn.org.vn

machining cnc machining services precision machining metal stamping sheet metal fabrication cnc milling CNC turning