Đoàn kết - Sáng tạo - Hội nhập - Phát triển
     
Hôm nay, 13/11/2018
Trang chủ 
Giới thiệu 
Tin tức - sự kiện 
Hoạt động Hội 
Phụ nữ khởi nghiệp 
Dư luận xã hội 
Hệ thống văn bản hoạt động Hội 
Đọc và suy ngẫm! 
Tiếng nói của nữ đại biểu 
Phụ nữ trên các lĩnh vực 
Luật pháp, chính sách 
Giới và phát triển 
Gương Phụ nữ 
Giải thưởng cho phụ nữ 
Quốc tế 
Gia đình 
Văn hoá - Nghệ thuật 
Hội LHPN các thời kỳ 
Tư liệu 
Thông báo 
Tìm kiếm

Trang t­u lieu
nu tri thuc
van ban xin y kien
MTTQ
Website PN Việt Nam ở nước ngoài
He DHTN

Bạn là người truy cập thứ:
70749183

ĐỌC VÀ SUY NGẪM!
Bình đẳng giới - còn nhiều nhận thức sai lầm: Định kiến giới trong hệ thống tư pháp
Cập nhật: 02/11/2018
Ảnh minh họa

Định kiến giới có thể tìm thấy ngay trong các quy định pháp luật, các bộ luật, trong quy trình điều tra của các cơ quan pháp luật, trong quy trình xét xử của tòa án...

Định kiến giới có thể tìm thấy ngay trong các quy định pháp luật, các bộ luật, trong quy trình điều tra của các cơ quan pháp luật, trong quy trình xét xử của tòa án, qua đó vô tình làm tăng thêm những mối nguy hại gây ra cho phụ nữ.

Nhiều khuôn mẫu giới cổ hủ trong hệ thống pháp luật

Có thể thấy, mối quan hệ giữa quy định của pháp luật với những khuôn mẫu giới cổ hủ, định kiến giới có thể ảnh hưởng theo những cách khác nhau tới khả năng tiếp cận hệ thống tư pháp. Cụ thể là trên ba phương diện. 

Thứ nhất, do quan niệm mang tính khuôn mẫu cổ hủ về giới mà quy định bất bình đẳng bỏ qua không quy định những nội dung cần thiết để bảo đảm cho bình đẳng giới (BĐG) trong việc tiếp cận hệ thống tư pháp. Thứ hai, quy định không rõ ràng, do đó việc giải thích hoặc áp dụng vô hình chung cổ súy cho cách suy nghĩ cổ hủ, định kiến giới. Thứ ba, quy định mang tính chất không khả thi hoặc rào cản khiến người dân vốn có sẵn tư tưởng cổ hủ, định kiến càng khó có cơ hội tiếp cận hệ thống tư pháp. 

Về vấn đề này, theo TS Đào Lệ Thu (GĐ Trung tâm Nghiên cứu so sánh luật công - Viện Luật so sánh, ĐH Luật HN) thì một số quy định của pháp luật có thể xem xét như những minh chứng cho mối quan hệ tiêu cực giữa khuôn mẫu giới cổ hủ, định kiến giới với hệ thống pháp luật Việt Nam.

Cụ thể, quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình còn một số nội dung gây tranh cãi từ góc độ bình đẳng giới. Đó là Luật quy định về nguyên tắc việc giúp đỡ phụ nữ thực hiện chức năng cao quý của người mẹ. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng quy định như vậy là xuất phát từ tư tưởng cổ hủ coi việc nuôi con là của người phụ nữ. Hay, khái niệm kết hôn đã loại bỏ việc kết hôn giữa những người đồng giới và khái niệm chung sống như vợ chồng cũng loại bỏ việc chung sống giữa những người cùng giới tính. Ngoài ra, quy định cho phép mang thai hộ cũng có thể bị xem là một sự ủng hộ cho tư tưởng sinh con bằng bất cứ giá nào để gia đình có người kế tự. 

 

 Ảnh minh họa


Luật Phòng chống bạo lực gia đình và Luật Bình đẳng giới đều chưa đưa ra được định nghĩa về bạo lực trên cơ sở giới. Vì vậy chưa thật sự xác định được nội hàm của khái niệm và có thể dẫn tới việc hiểu và áp dụng luật theo hướng ủng hộ những khuôn mẫu giới hoặc định kiến giới. Ví dụ, để xác định hành vi của người chồng hoàn toàn không tham gia vào các công việc gia đình, không làm việc để có thu nhập về cho gia đình có phải là một hình thức của bạo lực trên cơ sở giới không đơn giản. Hay, Bộ luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu không giống nhau giữa đối với nam và nữ.

Bộ luật Hình sự (BLHS) hiện hành cũng tồn tại một số quy định hoặc thiếu một số quy định ảnh hưởng đến việc thay đổi những khuôn mẫu giới hoặc định kiến giới. Đó là quy định việc không áp dụng án tử hình hoặc không thi hành án đối với phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi (Điều 35) nhưng lại không tính đến trường hợp đàn ông nuôi con dưới 36 tháng tuổi dường như gián tiếp mặc định nghĩa vụ chăm sóc con cái thuộc về phụ nữ. Hay, đối với quy định về các tội xâm hại tình dục, BLHS chưa thể hiện rõ vấn đề xâm hại tình dục trong quan hệ hôn nhân.

Một số quy định khác của BLHS ít nhiều có thể xem vô tình ủng hộ hoặc chịu ảnh hưởng của tư tưởng khuôn mẫu cổ hủ về giới như không quy định cụ thể hành vi bạo lực kinh tế đối với các thành viên trong gia đình tại Điều 151. Trong khi giải thích về hành vi đối xử tàn ác hoặc hành hạ trong những tội này lại chưa rõ có bao gồm trường hợp cưỡng ép lao động quá sức để kiếm tiền, hoặc bị người chồng hoàn toàn kiểm soát thu nhập dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Quy định tình tiết giảm nhẹ “phạm tội do lạc hậu” nếu áp dụng trong bối cảnh các tội mang tính bạo lực đối với phụ nữ hoặc bạo lực gia đình lại mang ý nghĩa cảm thông với quan niệm cổ hủ hoặc định kiến giới...

Bất cập trong thực thi pháp luật và tiếp cận công lý 

Mặc dù Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trong thúc đẩy bình đẳng giới và có tiến bộ đáng kể trong cải cách pháp luật liên quan đến bình đẳng giới và bảo vệ phụ nữ trước BLGĐ nhưng phụ nữ vẫn phải đối mặt với nhiều trở ngại trong tiếp cận công lý.

Thực tế cho thấy khi chịu ảnh hưởng của tư tưởng khuôn mẫu cổ hủ và định kiến giới, nhiều cán bộ tư pháp nhận thức vấn đề đơn giản, thậm chí đôi khi xem nhẹ vấn đề cần giải quyết như: Trong việc chia thừa kế, việc giải quyết ly hôn, việc điều tra, truy tố, xét xử các hành vi phạm tội có tính chất bạo lực giới.

Ví dụ trong các vụ việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo về xâm hại tình dục hoặc BLGĐ có đặc điểm khác với hành vi xâm hại con người khác. Tuy nhiên, cán bộ tư pháp trong nhiều trường hợp không nhận thức được tính nhạy cảm của vấn đề hoặc vì khuôn mẫu giới cổ hủ mà cho rằng những trường hợp này là vấn đề đạo đức gia đình, pháp luật không nên can thiệp. Thậm chí, nhận thức sai lệch về vấn đề ngầm ủng hộ quan điểm của người gây bạo lực khi cho rằng người phụ nữ, người vợ đáng bị đối xử như vậy. Nhận thức đó trong một số trường hợp dẫn đến thái độ thờ ơ, thiếu nhiệt tình, thiếu tâm lý, đôi khi còn soi mói, thiếu tôn trọng nạn nhân bị bạo lực. 

Nghiên cứu của UNODC (Văn phòng Liên Hiệp Quốc về chống ma túy và tội phạm) cho thấy, thái độ khoan nhượng phổ biến của các nhân viên thực thi pháp luật, với quan niệm cho rằng BLGĐ là một vấn đề riêng tư, cần ưu tiên giữ gìn sự toàn vẹn của gia đình và phụ nữ không bao giờ có thể từ chối nhu cầu tình dục của chồng. Nhiều nạn nhân không hài lòng với kết quả làm việc của công an, cảnh sát (47%) và nghĩ rằng các biện pháp của họ không đủ nghiêm khắc (54%). 

Bà Khuất Thu Hồng (Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội) cho rằng, hiện nay, khung pháp lý chính sách về phòng chống bạo lực gia đình và bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam khá đầy đủ so với các quốc gia khác, nhưng thực trạng bạo lực gia đình và bạo lực trên cơ sở giới còn nhiều. Những báo cáo về con số vụ việc bạo lực chỉ phản ánh một phần của thực trạng ấy, như phần nổi của tảng băng chìm, bởi quan niệm của nhiều người dân vẫn coi vấn đề này là chuyện riêng tư, nên có nhiều địa phương không báo cáo.

Thực trạng bạo lực không được phản ánh đầy đủ nên nỗ lực của các cơ quan để giải quyết cũng chưa đầy đủ. Việc thực thi pháp luật còn nhiều khoảng trống, người hòa giải chưa nhận diện được vụ việc BLGĐ, thường nghĩ những vụ đánh nhau nghiêm trọng thì mới quan tâm; có vụ việc được báo cáo lên nhưng lại không được giải quyết ngay, hoặc giải quyết không thỏa đáng gây mất niềm tin. 

Có thể thấy, giải quyết vấn đề bạo lực trên cơ sở giới đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện trong đó bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận công lý của người bị bạo lực là một phần quan trọng. Những khoảng trống còn tồn tại trong hệ thống pháp luật cần được cải thiện, cần rà soát lại các Bộ luật Lao động, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Hình sự... để bổ sung các chế tài xử lý thống nhất giữa các luật. 

Đối với hoạt động tin cậy tại cộng đồng, cần đưa thông tin về địa chỉ đến với mọi người, đặc biệt là những người có nguy cơ bạo lực. Trang bị cho người làm địa chỉ tin cậy các kỹ năng cơ bản trong việc hỗ trợ người bị BLGĐ. Bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ hòa giải viên nhằm nâng cao nhận thức cho họ về phạm vi hòa giải và áp dụng các chế tài pháp lý khác nếu hành vi bạo lực lặp lại nhiều lần, nghiêm trọng. Quy định rõ ràng tiêu chí hòa giải thành công, quan trọng nhất là chấm dứt bạo lực chứ không phải duy trì gia đình bất hạnh. Đối với các vụ việc hiếp dâm, xâm hại tình dục vì lý do nhạy cảm, cơ quan chức năng cần hướng dẫn nạn nhân và người nhà tiếp cận công lý, xử lý những người có hành vi bạo lực mà không nên dàn xếp dân sự. 

Ngoài ra, việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong hệ thống pháp lý đa kênh sẽ làm giảm gánh nặng tâm lý cho nạn nhân khi báo cáo vụ việc với các cán bộ nam giới và xử lý tốt hơn những khó khăn mà phụ nữ phải đối mặt khi tìm kiếm công lý.

Nghiên cứu về bạo hành gia đình cho thấy bức tranh hệ thống pháp luật không hoạt động với nữ giới như sau: 50% nạn nhân nữ chưa bao giờ kể với ai về vụ bạo hành, 87% nạn nhân nữ chưa yêu cầu chính quyền hoặc các cơ chế chính thống hỗ trợ, 43% trường hợp bạo hành gia đình được trình báo với công an, 61% trường hợp bạo hành được trình báo chuyển thành hòa giải, 12% trường hợp trình báo dẫn tới một tội danh hình sự... 

PNTĐ

In trang Gửi tới bạn Đầu trang  Gửi phản hồi

 
Các tin khác:
Các tin tiếp theo ››  
 

"... Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà có nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy thế hệ anh hùng của nước ta...

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chủ tịch uỷ ban hành chính, bí thư chi bộ....

Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam thật là anh hùng..."

(Trích bài nói chuyện của Hồ Chủ Tịch nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam 20/10/1966).

Tin mới
 • Nữ đại biểu Quốc hội - minh chứng sinh động cho tiến trình bình đẳng giới ở Việt Nam
 • Đoàn đại biểu cán bộ nữ và người có công với Cách mạng tỉnh Vĩnh Long thăm TW Hội LHPN Việt Nam
 • Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam: Gia đình có người uống rượu bia ít được đầu tư về dinh dưỡng, y tế
 • Bảo đảm an toàn cho lao động nữ di cư và phụ nữ lấy chồng nước ngoài
 • Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hà dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại Cao Bằng
 • "Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”
 • Dự án “Vì một thế giới đảm bảo quyền trẻ em và bình đẳng cho trẻ em gái” thông báo tuyển dụng
Hotline
Đồng hành cùng PNBC
Cuộc thi ý tưởng truyền thông ATTP
ATGT
HVPN
TTPN
TYM

For Advertise

 

Bản quyền thuộc về Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Địa chỉ:39 Hàng Chuối - Hà Nội - Việt Nam ; Điện thoại:9713436 -  Fax: (84-4) 9713143; Email: ;Website:
http://hoilhpn.org.vn

machining cnc machining services precision machining metal stamping sheet metal fabrication cnc milling CNC turning