Đoàn kết - Sáng tạo - Hội nhập - Phát triển
     
Hôm nay, 17/06/2019
Trang chủ 
Giới thiệu 
Tin tức - sự kiện 
Hoạt động Hội 
Phụ nữ khởi nghiệp 
Dư luận xã hội 
Hệ thống văn bản hoạt động Hội 
Đọc và suy ngẫm! 
Tiếng nói của nữ đại biểu 
Phụ nữ trên các lĩnh vực 
Luật pháp, chính sách 
Giới và phát triển 
Gương Phụ nữ 
Giải thưởng cho phụ nữ 
Quốc tế 
Gia đình 
Văn hoá - Nghệ thuật 
Hội LHPN các thời kỳ 
Tư liệu 
Bác Hồ với phụ nữ Việt Nam 
Hội LHPN Việt Nam - Những dấu ấn lịch sử 
Bài phát biểu của Lãnh đạo TW Hội 
ĐH Thi đua yêu nước 
Số liệu về PN và BĐG 
ĐBQH & HĐND các cấp 
Cán bộ lãnh đạo nữ 
Phong trào Phụ nữ Ba đảm đang 
Kỷ vật của Phụ nữ Việt Nam 
Phụ nữ trong lịch sử 
Đội quân tóc dài 
Thông báo 
Tìm kiếm

Trang t­u lieu
nu tri thuc
van ban xin y kien
MTTQ
Website PN Việt Nam ở nước ngoài
He DHTN

Bạn là người truy cập thứ:
75608032

KỶ VẬT CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
100 năm sinh Nữ sĩ Anh Thơ: Sông Thương da diết tiếng tu hú
Cập nhật: 27/12/2018
Nữ sĩ Anh Thơ

Nữ sĩ Anh Thơ sinh năm 1918 tại thị trấn Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Anh Thơ sáng tác từ sớm. Năm 17 tuổi với tập Bức tranh quê, bà được nhận giải Khuyến khích của Tự Lực văn đoàn.

Nữ sĩ Anh Thơ sinh năm 1918 tại thị trấn Ninh Giang, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Anh Thơ sáng tác từ sớm. Năm 17 tuổi với tập Bức tranh quê, bà được nhận giải Khuyến khích của Tự Lực văn đoàn. Anh Thơ tham gia Việt Minh từ năm 1945, từng là Bí thư Huyện Hội phụ nữ 4 huyện thời đó: Việt Yên, Lục Ngạn, Bắc Sơn, Hữu Lũng (tỉnh Bắc Giang), Ủy viên Thường vụ Tỉnh hội phụ nữ hai tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn. Bà đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật.

 

Một số tác phẩm của bà: Bức tranh quê (thơ, 1939); Xưa (thơ, in chung, 1942); Răng đen (tiểu thuyết, 1943); Hương xuân (thơ, in chung, 1944); Kể chuyện Vũ Lăng (truyện thơ, 1957); Theo cánh chim câu (thơ, 1960); Ðảo ngọc (thơ, 1964); Hoa dứa trắng (thơ, 1967); Quê chồng (thơ, 1979); Lệ sương (thơ, 1995); Hồi ký Anh Thơ (hồi ký, 2002, gồm 3 tập: Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng sông chia cắt)

 

Với những đóng góp của mình, nữ sĩ Anh Thơ đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2007.

 

Thuở ấy cả nước bắt đầu bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ nên hầu hết các tác phẩm văn nghệ tiền chiến bị “lùi lại” tuyến sau, không được phổ biến rộng rãi trong bạn đọc. Ngay cả cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân giới thiệu một thời đại trong thi ca ấy cũng chỉ nằm trong hệ thống sách nghiên cứu tham khảo phạm vi hẹp ở các khoa Ngữ văn của trường đại học Tổng hợp hoặc Sư phạm. Sau này, đọc lại Bức tranh quê của nữ sĩ Anh Thơ tôi mới biết thêm nhiều điều liên quan đến tập thơ.

 

Nào là chị phải viết vụng bố, nếu lộ ra bị ăn đòn. Nào là tập thơ đầu tay này được giải Khuyến khích của Tự Lực văn đoàn năm 1939 (cùng giải với Hoa niên của nhà thơ Tế Hanh). Nào là tập thơ viết đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông hầu hết gói gọn trong mười hai câu thơ... với những cảnh sắc xung quanh chị mà hồn vía người viết hòa vào hồn cây cỏ, đất trời... Không chỉ nghe thấy, nhìn thấy mà cảm thấy cái hồn sự vật của một tâm hồn khao khát muốn vươn ra, vượt khỏi hoàn cảnh tù túng, ngưng đọng, bế tắc đương thời. Biết bao nét đặc tả khêu gợi sống động trong tĩnh lặng của vùng quê xưa - đặc trưng của cảnh sắc đồng bằng Bắc Bộ - hiện ra ám ảnh tôi:

 

Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng - Đò biếng lười nằm mặc bến sông trôi - Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng - Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời... (trích Chiều xuân)

 

Bây giờ nhớ lại, những kỷ niệm về chị Anh Thơ còn tươi nguyên trong ký ức tôi. Hồi ấy vào năm 1966, Ty Văn hóa Hà Bắc tổ chức trại sáng tác cho các cây bút cộng tác với tạp chí Văn nghệ tỉnh. Trại đóng tại Liên Sơn - Cao Thượng - Tân Yên dưới những vạt dẻ đồi sum suê, nơi Ty Văn hóa sơ tán về đấy. Trại mời các nhà văn nhà thơ công tác ở trung ương có gắn bó với Hà Bắc về chấm bài trong đó có Nguyên Hồng, Kim Lân và Anh Thơ... Do không có điều kiện tham dự trại nhưng khi gặp các bạn viết cùng trang lứa, tôi được nghe đủ chuyện về sự tận tình của các “thầy, cô” góp ý nâng cao “tác phẩm” của cái thuở ban đầu bỡ ngỡ khi mới tập tọng sáng tác. Chị Anh Thơ đọc bài rất cẩn trọng, chi tiết, chị luôn quan tâm đến cái hồn của bài viết.

 

Có lẽ hơn ai hết chị hiểu sự khổ ải nhọc nhằn của nghiệp văn. Với ai tôi không rõ lắm nhưng với các cây bút Hà Bắc trưởng thành từ phong trào sáng tác lúc bấy giờ - trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhiều đều có chị nâng dắt, dìu đỡ: Anh Vũ, Trần Ninh Hồ, Trần Anh Trang, Nguyễn Thanh Kim...

 

Có lẽ bài thơ "nhập lòng" mà tôi biết được của nữ sĩ Anh Thơ chính là bài Tiếng chim tu hú. Tôi đã từng nghe chị tâm sự: “Lần ấy về thăm quê, khi đến vườn vải (gần Yên Dũng), chợt nghe tiếng chim tu hú da diết kêu, tôi bỗng nhớ lại những năm tuổi trẻ của mình. Ngày đó, có người con trai chưa kịp đến hỏi thì mình đã đi kháng chiến. Mình chỉ buồn mà thương người cha. Nỗi lo lắng cho đứa con yêu quá lứa nhỡ thì của ông thật chân thực. Lúc gặp ông ở vùng đồi Yên Thế, giữa mùa vải ông chỉ nhắc con gái “má hồng có thì”. Để yên lòng cha mình, an ủi ông, mình khổ mình già, nhưng còn bao em gái khác bị giặc bắt, đến ngày kháng chiến thành công sẽ hạnh phúc, vui tươi. Con có thiệt thòi nhưng bao cô gái khác sẽ hạnh phúc”. Rồi chị khe khẽ đọc:

 

Nắng hè đỏ hoa gạo - Nước sông Thương trôi nhanh - Trên đường quê bước rảo - Gió Nam giỡn lá cành/ Bỗng tiếng chim tu hú - Đưa từ vườn vải xa - Quả bắt đầu chín lự - Ngọt như nỗi nhớ nhà… (trích Tiếng chim tu hú) - Bắc Giang, 1954 

 

Bẵng đi một thời gian dài tôi mới gặp lại chị Anh Thơ trên quê hương Bắc Giang mà chị gắn bó nhiều năm; khi in tập hồi ký văn học Từ bến sông Thương, chị nhắc đến với rất nhiều kỷ niệm và coi đó như khởi nghiệp văn chương của mình. Thời gian này để ghi nhận một đời văn nghiệp của chị Anh Thơ với thơ ca và chị là người hoạt động Cách mạng từ những ngày trứng nước, UBND tỉnh Hà Bắc tổ chức cuộc tọa đàm nữ sỹ Anh Thơ với bạn đọc, và giao cho hội văn nghệ tỉnh tổ chức tại phòng khách của tòa soạn báo Hà Bắc (nơi tôi công tác).

 

Duyên dáng trong tà áo dài trắng, chị Anh Thơ xúc động kể lại những năm tháng chị hoạt động công tác phụ vận ở huyện Yên Dũng, thăm trận địa pháo phòng không bảo vệ cầu Bắc Giang, thăm bạn bè cũ ở xóm Thùng Đấu, thị xã Bắc Giang thân thương thuở nào. Gặp lại tôi, chị vẫn ân cần thăm hỏi tôi như ngày nào, như một người chị đi xa về nhớ đến đứa em.  

 

Có lẽ lần gặp cuối cùng của tôi với chị Anh Thơ trước khi chị mất khiến tôi nhớ mãi, day dứt mãi... Tôi đang biên tập bài ở tòa soạn báo Sức khỏe và đời sống thì nhận được điện chị Anh Thơ ốm bệnh. Tôi và vợ chồng nhà thơ Phạm Hồ Thu - Trần Quốc Thực đến thăm chị ở ngõ Văn Chương - nơi suốt ngày vọng lại tiếng còi tàu từ phía ga Hà Nội. Đi dọc cầu thang lên tới tầng 3 chúng tôi vào phòng chị. Trên bàn chị lúc nào cũng có hoa tươi. Do tuổi cao sức yếu nên chị cho thuê một cháu gái đến chăm nom, nấu cơm, giặt giũ.

 

Sau khi anh Dinh - người chồng chị hết mực yêu thương mất, chị quyết định từ miền Nam trở ra Hà Nội. Cẩm Thơ theo chồng định cư tại Pháp thỉnh thoảng có thư về thăm chị... Chị vẫn đọc đều thơ tôi và các tác giả quê Kinh Bắc trên tuần báo Văn nghệ. Chị nhắc lại kỷ niệm về các bạn thơ trẻ Hà Bắc, chẳng sót một ai. Chị mong có những sáng tác mới gửi chị, để chị được đọc, được chia sẻ cùng chúng tôi.

 

Chị Anh Thơ vẫn như ngày nào, vẫn hào hứng nhiệt thành, tâm sự như chưa hề biết tuổi già ùa đến với mình. Tiễn chúng tôi ra đầu cầu thang, chị Anh Thơ còn dặn: “Nếu rỗi đến với chị, có sáng tác thơ mới nữa thì càng hay”. Chị bao giờ cũng chí tình, nồng hậu mà thật thấu đáo. Tôi nhìn chị mà ứa nước mắt...

Rằm Tháng Tám

 

Trời trong sáng, trăng tròn lơ lửng gió

Đồng mờ sương khóm chuối lặng mơ màng

Những ao biếc ngâm sao đầy nước tỏ

Bụi tre ngà lơi lả uốn lưng cong.

Trong đường xóm trống chiêng chung nhịp nổi

Trẻ con theo sư tử rước vang ầm.

Ngoài đình sáng tiếng cười chen tiếng nói

Gái trai làng ra họp hát trống quân.

Trong khi ấy phất phơ khăn với áo

Các bà đồng ra điện lễ, cười vui.

Nghiêm lặng nhất có vài ba ông lão

Thả con thuyền uống rượu với trăng trôi.

 

 

Gửi em nơi tiền tuyến

 

Chị trở lại căn phòng xưa yêu dấu

Quét bụi ngập đầy sàn, kê lại chiếc bàn con

Cửa sổ hôm nay trời mới xanh hơn

Mảng tường vỡ, vẫn đầy mướp vàng nắng nở

Vần thơ đầu tiên gửi em nơi tuyến lửa.

 

Hà Nội hôm nay chớm lạnh đầu mùa

Những hoa cúc, Tây Hồ, đem vào màu trắng mát

Những nải chuối tiêu chín lừng trứng cuốc

Những lồ cam từ khu Bốn, vàng tươi

Những trái hồng mọng đỏ niềm vui.

 

Mâm cơm nhà ai? Có mùi dưa chua nấu cá?

Có rau diếp, hành hoa, răm, mùi thái nhỏ

Ôi! Mâm cơm nóng sốt gia-đình!

Em từng ước mơ giữa bước trường chinh.

 

Ta chưa được vui sum họp

Vì giặc Mỹ vẫn còn trên nửa nước

Chị nhớ em như nhớ miền Nam

(Như bao nhiêu tấm lòng yêu thương).

 

Những đồng lúa hậu phương vừa chín gấp

Những nhà máy, công trường tới tấp

Những đàn cá chờ bơi lên hồ mới, đỉnh rừng

Những con đường đang vươn thẳng không ngừng.

 

Chiếc ba-lô vẫn màu xanh lá biếc

Cửa phòng ta tạm khép

Chị lại ra đi

Để cùng em chiến đấu “Ngày về”.

 

Thu 1968

Kỷ niệm ngày Mỹ ngừng bắn phá miền Bắc Việt Nam

Anh Thơ

phunuthudo

In trang Gửi tới bạn Đầu trang  Gửi phản hồi

 
Các tin khác:
Các tin tiếp theo ››  
 

"... Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà có nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy thế hệ anh hùng của nước ta...

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chủ tịch uỷ ban hành chính, bí thư chi bộ....

Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam thật là anh hùng..."

(Trích bài nói chuyện của Hồ Chủ Tịch nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam 20/10/1966).

Tin mới
 • Học viện Phụ nữ Việt Nam thông báo Gia hạn thời gian nhận hồ sơ tuyển dụng năm 2019
 • Bàn giải pháp phát triển hội viên, xây dựng đội ngũ Chi hội trưởng, Tổ trưởng Tổ phụ nữ
 • Từ năm 2020, các cấp Hội không sử dụng sản phẩm nhựa dùng 1 lần
 • Hỗ trợ phụ nữ nghèo, khó khăn vươn lên trong cuộc sống
 • Hội LHPN Phú Yên thực hiện tốt phương châm “Ở đâu có phụ nữ, ở đó có hoạt động Hội”
 • Quốc hội thông qua Nghị quyết giám sát phòng, chống xâm hại trẻ em
ATPNTE
hotline
Cuoc thi Y tuong l3
ATGT
HVPN
TTPN
TYM

For Advertise

 

Bản quyền thuộc về Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Địa chỉ:39 Hàng Chuối - Hà Nội - Việt Nam ; Điện thoại:9713436 -  Fax: (84-4) 9713143; Email: ;Website:
http://hoilhpn.org.vn

machining cnc machining services precision machining metal stamping sheet metal fabrication cnc milling CNC turning