Nghiên cứu xây dựng sử dụng bộ chỉ số quản trị quốc gia trong xã hội công nghệ số (Digital society) mục tiêu tăng trưởng xanh – phát triển bền vững trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) tại Việt Nam

24/05/2024
Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả là xu hướng quản trị của thế giới. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, đột phá chiến lược của Việt Nam đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII. Tuy nhiên, đây là vấn đề mới của Việt Nam về lý luận và thực tiễn, đến nay chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về quản trị quốc gia hiện đại với Bộ chỉ số quản trị quốc gia của Việt Nam trong Cách mạng 4.0.
Thượng tướng, PGS.TS Nguyễn Văn Thành Nguyên uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương chia sẻ tại Hội thảo quốc gia "Chuyển đổi số trong hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam" ngày 18/5

ĐẶT VẤN ĐỀ

    Đo lường, đánh giá hiệu quả hoạt động của quản trị quốc gia là yêu cầu không thể thiếu để công tác quản trị có hiệu quả. Việc thiết lập hệ thống và sử dụng hệ thống đo lường, đánh giá hiệu quả các hoạt động giúp quốc gia hiểu rõ và kiểm soát các hoạt động của mình ngày càng có hiệu quả, đạt được mục tiêu đề ra. Hệ thống đánh giá, giám sát được thể hiện bằng các chỉ số cụ thể đánh giá chất lượng hoạt động, kết quả đạt được, đồng thời kết quả và tác động của các mục tiêu đạt được này ở hiện tại cũng như tương lai. Việc áp dụng Chỉ số đo lường, đánh giá hiệu quả quản trị là yêu cầu khách quan, được thực hiện ở cấp quốc gia hoặc cấp quản trị theo ngành, lãnh thổ hoặc lĩnh vực như tài chính, cải cách hành chính, môi trường kinh doanh hoặc năng lực cạnh tranh quốc gia hoặc cấp vi mô như chỉ số năng lực cạnh tranh của DN /sản phẩm…

    Đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế và Cách mạng 4.0 hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng phục vụ của chính quyền hướng đến quốc gia thông minh dựa trên các yếu tố nền tảng của Cách mạng 4.0 như trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế số (digital economy), internet vạn vật (internet of things - IoT), dữ liệu lớn (big data), chuỗi khối (blockchain), điện toán đám mây (cloud computing), công nghệ in 3D, đảm bảo đạt được mục tiêu phát triển bền vững, sự thịnh vượng cho người dân.

  Đối với Việt Nam, Nghị quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (4.0). Mục tiêu cụ thể đến năm 2025: Duy trì xếp hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc 3 nước dẫn đầu ASEAN. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Duy trì xếp hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới. Mạng 5G phủ sóng toàn quốc. Mọi người dân được truy cập Interrnet băng thông rộng với chi phí thấp. Kinh tế số chiếm 30% GDP; Hoàn thành xây dựng chính phủ số. Hình thành chuỗi đô thị thông minh trong cả nước. Tầm nhìn đến năm 2045: Việt Nam trở thành một trong những trnng tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu Châu Á.

I. MÔ HÌNH XÃ HỘI CÔNG NGHỆ SỐ - NHỮNG TÁC ĐỘNG

1. Công nghệ số là quá trình thay đổi từ mô hình truyền thống sang xã hội công nghệ số bằng cách áp dụng công nghệ mới như AI, cơ sở dữ liệu lớn, internet vạn vật, điện toán đám mây… thay đổi phương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa doanh nghiệp. Công nghệ số hay chuyển đổi số là khi có dữ liệu được số hóa rồi, chúng ta phải sử dụng các công nghệ 4.0 như AI, cơ sở dữ liệu lớn, internet vạn vật… để phân tích dữ liệu, biến đổi chúng và tạo ra một giá trị mới.  

Về xã hội công nghệ số: Tại Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Xã hội công nghệ số là xã hội tích hợp công nghệ số một cách tự nhiên và mặc định vào mọi mặt của đời sống, người dân được kết nối, có khả năng tương tác và thành thạo kỹ năng số để sử dụng các dịch vụ số, từ đó, hình thành các mối quan hệ mới trong môi trường số, hình thành thói quen số và văn hoá số.

Mô hình xã hội công nghệ số theo Tại Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/03/2022 của Thủ tướng Chính phủ

Mô hình xã hội công nghệ số với 15 tiện ích dễ dàng, nhanh chóng:

(1). Kết nối xã hội, Công nghệ kỹ thuật số giúp bạn dễ dàng giữ liên lạc với bạn bè, gia đình và làm việc từ xa, ngay cả khi bạn đang ở một nơi khác trên thế giới. Bạn có thể giao tiếp bằng lời nói, video, âm thanh và trao đổi các phương tiện khác. Tất cả các trang web, ứng dụng và phần mềm đã được tạo ra để giúp người dùng giao lưu. Mạng xã hội, nhắn tin, nhắn tin, máy tính xách tay, máy tính bảng và điện thoại di động, có nghĩa là không ai cần cảm thấy bị cô lập trong thế giới kỹ thuật số. Người dùng có thể thường xuyên được cập nhật tin tức về các sự kiện địa phương và diễn biến xã hội. (Công nghệ số cho phép kết nối mọi người ở khắp nơi trên thế giới).

(2). Tốc độ cao trong giao tiếp, Tốc độ Internet đã tăng theo cấp số nhân. Băng thông rộng nhanh hơn bao giờ hết cho phép truyền một lượng lớn thông tin trên web gần như ngay lập tức, giúp bạn có thể truyền phát video và âm thanh trong thời gian thực, gửi các tệp dữ liệu lớn và truy cập dữ liệu từ hầu hết mọi nơi trên thế giới. Truyền thông phương tiện truyền thống có thể mất nhiều thời gian hơn.

(3). Làm việc đa năng, Bản chất của công việc đã được chuyển đổi bởi công nghệ số. Các tùy chọn kết nối tăng lên có nghĩa là nhiều người hiện có nhiều cơ hội hơn để làm việc tại nhà, vì làm việc từ xa ngày càng trở nên phổ biến. Nhiều công việc bây giờ có thể được thực hiện từ ngay cả khi bạn đang cách nơi làm việc hàng trăm, hàng ngàn dặm mà không gặp khó khăn. Giờ đây, tất cả công nhân có mặt trong cùng một tòa nhà, nhiều phương thức làm việc linh hoạt khác hiện có thể thực hiện được.

(4). Cơ hội học tập, Bất kỳ ai có quyền truy cập internet hiện nay đều có thể tiếp cận với một khối lượng kiến thức khổng lồ của thế giới qua web. Ngoài ra, các bài học và khóa học hiện có thể được cung cấp hầu như trực tuyến. Ở một khía cạnh khác, bạn cũng có thể dễ dàng kết nối và giao tiếp với mọi người, thuộc mọi quốc gia và vùng lãnh thổ qua Internet để học tập, giao lưu và tìm hiểu thêm về các nền văn hóa của họ. Công nghệ số cũng có thể dễ sử dụng hơn đối với người khuyết tật và thường cung cấp cho họ quyền tiếp cận bình đẳng.

(5). Tự động hóa, Công nghệ số ngày càng khiến máy móc trở nên thông minh hơn. Trong một số trường hợp, máy móc không còn cần con người vận hành, giải phóng người lao động khỏi những công việc lặp đi lặp lại thường xuyên để có những công việc thú vị hơn. Trong các trường hợp khác, máy móc thông minh hơn đồng nghĩa với tiêu chuẩn an toàn tốt hơn hoặc trải nghiệm tốt hơn cho người dùng.

(6). Lưu trữ thông tin, Công nghệ số cho phép lưu trữ một lượng lớn thông tin trong không gian tương đối nhỏ. Một lượng lớn phương tiện, chẳng hạn như ảnh, nhạc, video, thông tin liên hệ và các tài liệu khác có thể được mang theo trên các thiết bị nhỏ như điện thoại di động. Cũng như các vị trí thực, dữ liệu cũng có thể được lưu trữ trực tuyến, cho phép nó được truy cập từ bất kỳ thiết bị nào có truy cập internet.

(7). Chỉnh sửa, Các tùy chọn sáng tạo để chỉnh sửa video và ảnh đã tăng lên theo cấp số nhân với sự ra đời của công số. Một trong những lợi thế lớn của công nghệ kỹ thuật số so với các phương tiện truyền thống là thông tin có thể dễ dàng chỉnh sửa hoặc thao tác hơn. Chỉnh sửa video, trước đây đòi hỏi các studio và thiết bị đắt tiền, giờ đây có thể được thực hiện trên máy tính xách tay trong phòng ngủ. Tất cả các loại hiệu ứng chụp ảnh hiện có sẵn, cũng như khả năng cắt, thay đổi kích thước và thay đổi hình ảnh một cách sáng tạo.

(8). Nhân bản chính xác, Một trong những điều tuyệt vời về công nghệ kỹ thuật số là nó cho phép sao chép chính xác các phương tiện truyền thông.

(9). GPS và Bản đồ ứng dụng bản đồ số dần thay thế bản đồ giấy trước đây. Kỹ thuật số kết hợp với công nghệ vệ tinh đã làm biến đổi du lịch. Thay vì sử dụng bản đồ giấy như trước đây, ngày nay con người quen thuộc hơn với các ứng dụng bản đồ điện tử được thiết lập ngay trên điện thoại. Ngoài ra, các dịch vụ GPS hiện có thể xác định chính xác vị trí của bạn, cập nhật cho bạn tình hình tắc đường và đóng đường trong thời gian thực, đồng thời cung cấp cho bạn nhiều thông tin cập nhật như thời gian đến điểm đến của bạn, cũng như các tuyến đường thay thế. Nếu bạn muốn tìm một trạm xăng hoặc hiệu thuốc mở cửa, điều đó cũng thật dễ dàng.

(10). Tốc độ vận chuyển nhanh chóng, tiện ích, Nhiều tàu hỏa và máy bay đã dựa vào công nghệ kỹ thuật số ở một mức độ nào đó. Các phương tiện giao thông đường bộ như ô tô, xe tải sẽ trở nên hoàn toàn tự động trong một tương lai không xa. Việc truy cập lịch trình, cũng như đặt máy bay và tàu hỏa hiện nay thường diễn ra trực tuyến. Hộ chiếu chứa các chip kỹ thuật số lưu giữ thông tin, cho phép các máy tự phục vụ tăng tốc quá trình làm thủ tục và thông quan.

(11). Chi phí thấp, Ngoài việc trả tiền cho một dịch vụ internet và những thứ cơ bản như modem, nhiều thứ mà thế giới kỹ thuật số cung cấp có thể được truy cập miễn phí. Gửi email, giao tiếp qua liên kết video với gia đình và lướt internet thường không tốn phí.

(12). Công nghệ giải trí thay đổi, Toàn bộ ngành công nghiệp giải trí và cách mọi người tự giải trí đã được thay đổi hoàn toàn kể từ khi cuộc cách mạng 4.0 bắt đầu. Các phương tiện truyền thông xã hội trực tuyến hoặc chơi trò chơi máy tính, mobile ngày càng trở nên phổ biến.

(13). Tin tức, Thay vì đọc báo giấy, ngày càng có nhiều người nhận tin tức của họ thông qua một trang web hoặc phương tiện truyền thông xã hội. Ngay cả các phương tiện thông tin truyền thống, chẳng hạn như TV và radio, đã được số hóa. Mọi người có nhiều lựa chọn cho các nguồn tin tức hơn bao giờ hết và hầu hết các nguồn tin tức đều có sẵn 24 giờ mỗi ngày. Báo chí độc lập và tự làm bây giờ rất phổ biến, cũng như những người bình thường chụp ảnh và quay video trên điện thoại của họ tại các địa điểm đang diễn ra một sự kiện tin tức.

(14). Tài chính ngân hàng, số hóa đã dẫn đến một cuộc cách mạng trong các vấn đề tài chính. Ngân hàng trực tuyến được thực hiện thông qua máy tính xách tay, máy tính bảng hoặc ứng dụng điện thoại hiện đã trở thành tiêu chuẩn. Người dùng ngân hàng hiện có thể kiểm tra các khoản thanh toán đến và đi của họ ngay trên điện thoại, máy tính bảng, cũng như sắp xếp việc chuyển tiền và thanh toán hóa đơn. Ngoài ngân hàng, các vấn đề tài chính khác, chẳng hạn như mua bán tiền tệ và cổ phiếu có thể được xử lý trực tuyến. Việc chuyển tiền giữa các tài khoản trong nước và quốc tế cũng đã có nhiều đổi mới.

(15). Thiết bị có kích thước nhỏ hơn, Một hiệu ứng chung của công nghệ kỹ thuật số gần như được coi là đương nhiên là các thiết bị có thể được làm nhỏ hơn nhiều. Ví dụ, điện thoại mà chúng ta mang theo là máy tính mini, có khả năng lướt mạng, làm việc như máy tính, lập kế hoạch hành trình, chụp và phát ảnh, âm thanh và video, cung cấp các trò chơi để chúng ta giải trí cũng như điều hành điện thoại và có các chức năng khác. Các thiết bị nhỏ hơn nói chung có nghĩa là tính di động nhiều hơn và sử dụng ít diện tích hơn trong không gian sống.

2. Những tác động trong quản trị quốc gia và đối với con người

(1). Tác động lên chính quyền: xuất hiện mô hình Chính phủ trí tuệ nhân tạo (AI-Government); Tiến đến 100 năm Liên hợp quốc (2045), Bàn tròn UN 2045 do Ramu Damodaran, Tổng giám đốc Academic Impact của Liên hợp quốc, Tổng Biên tập Tạp chí Biên niên sử Liên hợp quốc và cha đẻ Internet Vint Cerf thảo luận về mô hình mới con người hướng tới: “kinh tế trọng tâm vì con người, hệ sinh thái internet và trí tuệ nhân tạo mới cho công việc và cuộc sống”. Nội hàm thành phố Xã hội Trí tuệ nhân tạo (AIWS City) trong mô hình Thành phố thông minh (Smart city). Khả năng thích ứng với công nghệ mới của các cơ quan công quyền sẽ quyết định năng lực quản lý của họ. Chính quyền và các cơ quan quản lý của mình sẽ cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp và các hội, hiệp hội và người dân.

(2) Tác động đối với con người (tồn tại con người): Sự phát triển của khoa học công nghệ và áp dụng vào sản xuất và đời sống xã hội nguy cơ gia tăng nạn thất nghiệp, chênh lệch trình độ phát triển, chênh lệch giàu nghèo, xuất hiện mâu thuẫn xã hội trong thời đại Internet… đặt ra nhiều thách thức mới về đời sống và an ninh, an toàn xã hội và con người. Về sinh học, xã hội và tinh thần đặt ra những yêu cầu mới. Theo dòng chảy của cuộc cách mạng 4.0, trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cuộc sống.

Cạnh tranh việc làm, Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới, đến năm 2025, người sử dụng lao động sẽ phân chia công việc giữa con người và máy móc một cách gần như bình đẳng 50-50. Tự động hóa nhanh hơn dự kiến, sẽ thay thế 85 triệu việc làm. Công nghệ sẽ thay đổi nhiệm vụ, công việc và kỹ năng vào năm 2025. Khoảng 43% doanh nghiệp được khảo sát cho biết rằng họ sẽ giảm lực lượng lao động vì áp dụng công nghệ, 34% có kế hoạch tuyển dụng lực lượng lao động mới do tích hợp công nghệ.

(3). Tác động đối với doanh nghiệp: có bốn tác động chính: (i) về kỳ vọng của khách hàng, (ii) về nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, (iii) về đổi mới hợp tác và (iv) về các hình thức tổ chức sản xuất và sáng tạo. Tăng sức ép gia tăng dòng nhập cư: Các doanh nghiệp cạnh tranh nhất sẽ tập trung vào việc nâng cấp kỹ năng cho công nhân của họ. Làm việc từ xa: Khoảng 84% người sử dụng lao động đang nhanh chóng số hóa các quy trình làm việc, mở rộng đáng kể hình thức làm việc từ xa. Có khả năng 44% lực lượng lao động sẽ di chuyển sang làm việc từ xa. Tuy nhiên, 78% các nhà doanh nghiệp cho rằng sẽ có một số tác động tiêu cực đến năng suất của người lao động và nhiều doanh nghiệp đang thực hiện các bước giúp nhân viên của họ thích nghi dần với làm việc từ xa.

(4). Tác động lên báo chí, truyền thông: Công nghệ viết tin tự động: Phần mềm tự động viết tin tức tài chính đã được hãng thông tấn AP đưa vào sử dụng từ năm 2014 với tốc độ lên tới 2.000 bản tin/giây và tiếp tục được mở rộng sang lĩnh vực khác; trí tuệ nhân tạo AI tự sáng tạo nội dung truyền thông.

(5).  Tác động đến an ninh, an toàn: ngày 01/11/2002, cụm từ “An ninh phi truyền thống chính thức xuất hiện trong “Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống”. Theo quan điểm của UN (Liên hợp quốc) gồm 10 mối đe dọa. Nổi cộm gần đây là hành vi lợi dụng kết nối internet để thực hiện tội phạm, đặt ra nhiều thách thức trong quản trị không gian mạng. Xuất hiện những đột biến trên không gian ảo, kinh doanh đa cấp ảo, bong bóng đầu tư vào các loại tiền ảo, bitcoin gây tiềm ẩn khủng hoảng lan truyền tới thị trường tài chính toàn cầu mà chưa có các biện pháp kiểm soát hiệu quả.

II. VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ TUẦN HOÀN, TĂNG TRƯỞNG XANH

1. Nhận thức và bản chất nền kinh tế tuần hoàn, Kinh tế tuần hoàn là một khái niệm đã phát triển qua nhiều thập kỷ để trở thành một sự thay thế khả thi cho hệ thống tiêu dùng lãng phí hiện tại. Nó đang dần dần hình thành và được áp dụng, đòi hỏi ít hy sinh của người tiêu dùng hay ngành công nghiệp. Hệ thống này sẽ đi tiên phong trong thiết kế, bảo trì, sửa chữa, tái sử dụng, tái sản xuất, tân trang và tái chế lâu dài. Khi thế giới ngày càng nhận thức được tác động của loài người đối với hành tinh của chúng ta, hệ thống kinh tế mới cần phải giải quyết bản chất hữu hạn của tài nguyên không tái tạo, mà còn xử lý lượng chất thải lớn đã tạo ra.

Trong tự nhiên, khái niệm chất thải không tồn tại, bởi vì mọi thứ đều được biến đổi, đóng vai trò là nguyên liệu thô cho các chu kỳ mới. Kinh tế tuần hoàn biến đổi logic của sản xuất, tiêu thụ và thải bỏ dựa trên ba nguyên tắc: (i) Loại bỏ chất thải và ô nhiễm theo nguyên tắc; (ii) Giữ sản phẩm và nguyên liệu theo chu kỳ sử dụng; (iii) Tái tạo hệ thống tự nhiên. Nền kinh tế tuần hoàn: Một sự thay thế cho tư duy: lấy đi, làm ra, tiêu thụ, vứt bỏ.

2. Kinh tế xanh tăng trưởng xanh - lược sử hình thành và quá trình phát triển

(1) Nhận thức về nền kinh tế xanh: Theo UNEP: “Là nền kinh tế bảo đảm cải thiện đời sống con người và công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro cho môi trường và rủi ro khan hiếm về sinh thái”.

(Nguồn:http://www.unep.org/greeneconomy/AboutGEI/WhatisGEI/tabid/29784/Default.aspx)

Theo OECD: Kinh tế xanh tóm tắt là một nền kinh tế chất khí thải carbon thấp, có thể đo lường được mức độ chất khí thải carbon của hoạt động kinh tế. Những lĩnh vực của kinh tế xanh: (1) Nông Nghiệp; (2) Lâm Nghiệp; (3) Ngư nghiệp; (4) Du lịch; (5) Ngành Xây dựng; (6) Kinh tế đô thị; (7) Giao thông; (8) Nghiên cứu năng lượng tái tạo; (9) Chế biến; (10) Xử lý chất thải; (11) Nguồn nước.

Mục tiêu của tăng trưởng xanh: tiến tới nền kinh tế carbon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.

Về tăng trưởng xanh, kinh tế xanh: Vừa tăng trưởng, vừa bảo đảm tạo việc làm, bền vững về môi trường (win-win). Tăng trưởng dựa vào sáng tạo công nghệ, phát triển công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, ít phát thải; tăng trưởng dựa trên sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên; trách nhiệm xã hội cao của doanh nghiệp, cộng đồng đối với môi trường và hệ sinh thái.

3 Chủ trương và Kế hoạch hành động của Việt Nam: Quyết định số 432/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược PTBV 2011-20 (4-2012): “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế các bon thấp. Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực...” Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt nam (QĐ 1393 tháng 9/2012) đề ra khung chính sách hướng tới phát triển nền kinh tế xanh ở Việt nam. Trong đó, tập trung 3 nhiệm vụ trọng tâm: (i) Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; (ii) Xanh hóa sản xuất; (iii) Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Trong đó, có nhiệm vụ về “đô thị hóa bền vững”

 Chương trình hành động thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh đưa ra 12 nhóm hoạt động với 66 hành động, trong đó có nhóm về “Phát triển đô thị xanh và bền vững”.Cho đến nay, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều giải pháp nhằm giảm thiểu và sử dụng các nguồn lực thông qua việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật bảo vệ môi trường (Luật số 72/2020/QH14 của Quốc hội); Nghị Quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07 tháng 5 năm 2018. Đặc biệt, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng đặt ra mục tiêu tỷ lệ chất thải rắn được thu gom và xử lý đạt trên 90%, trong đó chất thải rắn chôn lấp đạt dưới 30%. Nhiều mô hình cách làm hay xuất hiện tại các tỉnh, thành phố trong cả nước như tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh; thành phố Hải Phòng; phong trào sử dụng năng lượng tiết kiệm tại Bình Thuận, Cần Thơ, Tiền Giang, Bắc Ninh...

Tháng 7/2019, tại Thành phố Antofagasta (Chi-lê), Cộng đồng năng lượng thông minh (ESCI) của APEC trao giải Mô hình thực tiễn tốt nhất - phân ban trụ cột về các mô hình đô thị carbon thấp với công trình dự thi về Thực tiễn xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố cảng xanh - mô hình kinh tế tuần hoàn chủ động ứng phó với biển đổi khí hậu. 

4. Nghiên cứu xây dựng quy trình các bước: Xây dựng mô hình hệ sinh thái kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh áp dụng khoa học tư duy hệ thống trong CMCN 4.0:

Định hướng, hướng dẫn khai thác sử dụng tài nguyên tạo sản phẩm và dịch vụ cho xã hội theo mô hình 6R (Reduce – Reuse – Recycle – Refuse – Rethink - Responsibility), xem sản phẩm như là dịch vụ (thay đổi tư duy sở hữu sản phẩm thành tư duy sử dụng).

II. NHẬN THỨC QUẢN TRỊ QUỐC GIA VÀ QUẢN TRỊ QUỐC GIA TRONG CUỘC CÁCH MẠNG 4.0

1. Quản trị: là hoạt động được hình thành từ khi có loài người, là yếu tố quan trọng quyết định đảm bảo cho sự phát triển của các quốc gia, tổ chức, doanh nghiệp, trong đó khoa học công nghệ là yếu tố nền tảng nhằm đạt được mục tiêu đề ra của một tổ chức hoặc quốc gia.

Quản trị quốc gia. Quan niệm quản trị quốc gia được hình thành từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và mô hình này tiếp tục được quan tâm thảo luận vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI cùng với quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới.

Quản trị quốc gia gia đầu xuất hiện từ thập kỷ 70 thế kỷ XX là: “Quản trị quốc gia là thông qua các thể chế chính thức hoặc phi chính thức để kiểm soát, quản trị các nguồn lực của đất nước”. Từ đây khái niệm quản trị quốc gia tốt với nhiều tiêu chí được đề cập và được nhiều quốc gia áp dụng để đánh giá hiệu quả thực hiện quản trị quốc gia hàng năm.

(1) Theo UNDP “Quản trị quốc gia là việc thực thi quyền lực chính trị, hành chính, kinh tế để quản lý các vấn đề của quốc gia ở các cấp độ. Nó bao gồm các cơ chế, quy trình và thiết chế mà thông qua đó, các công dân, các nhóm biểu thị sự quan tâm và thực hiện các quyền hợp pháp, nghĩa vụ của mình cũng như cho thấy sự khác biệt của họ”. Và cho rằng về bản chất quản trị quốc gia chính là quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định để quản lý quốc gia, giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế - xã hội ở một quốc gia.

 (2) Bộ chỉ số quản trị quốc gia trong Cách mạng 4.0 bao gồm các chỉ số thành phần được gắn kết khoa học đo lường, phản ánh được thực trạng, xu hướng, ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị quốc gia này so với các quốc gia khác trong hội nhập quốc tế về các yếu tố chính như: (i) Vai trò và hiệu quả hoạt động của Chính phủ; (ii) Mức độ tăng năng suất của quốc gia trong Cách mạng 4.0 là động lực quan trọng cải thiện mức sống trong dài hạn như thể chế, cơ sở hạ tầng, ứng dụng công nghệ ICT hiện đại,…; (iii) Quyền lực mềm của quốc gia khẳng định vị thế của quốc gia trên trường quốc tế như hệ số tín nhiệm quốc gia, thương hiệu quốc gia,…; (iv) Môi trường kinh doanh với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo như năng lực đổi mới sáng tạo, năng động trong kinh doanh; (v) Chất lượng cuộc sống của nhân dân như thu nhập, y tế, giáo dục…

3. Nguyên tắc quản trị quốc gia

Nguyên tắc 1: Quản trị quốc gia phải dựa trên nguyên tắc pháp quyền, tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan công quyền, bảo đảm quản trị hiệu quả các nguồn lực quốc gia bao gồm nguồn lực công và nguồn lực tư theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của quốc gia.

Nguyên tắc 2: Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng với sự tham gia của các chủ thể trong quản trị quốc gia (Nhà nước, doanh nghiệp và công dân).

Nguyên tắc 3: Quản trị quốc gia đáp ứng yêu cầu hiện đại, cạnh tranh, hiệu quả trên cơ sở ứng dụng công nghệ ICT hiện đại, phát triển trở thành quốc gia số, thông minh trên cơ sở thiết lập được môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, cạnh tranh, hấp dẫn, thân thiện môi trường, đặc biệt có cơ chế, chính sách hợp tác theo hình thức công - tư hiệu quả, bảo đảm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên cơ sở công nghệ cao, nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nguyên tắc 4: Quản trị quốc gia thông minh thúc đẩy việc bảo vệ các quyền con người và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước. Đặc biệt quản trị quốc gia cần dung nạp sự khác biệt về văn hóa, đưa văn hóa trở thành mục tiêu, hệ điều tiết và là động lực của tăng trưởng và phát triển bền vững.

Nguyên tắc 5: Hoạt động quản trị quốc gia phải được đo lường, đánh giá tính hiệu quả quản trị ở cấp độ quốc gia hoặc các lĩnh vực, ngành hay địa phương bằng các chỉ số được quốc tế thừa nhận về tính hiện đại, cạnh tranh và hiệu quả trong việc đạt được mục tiêu phát triển trở thành quốc gia số, thông minh, bền vững, thịnh vượng. Quản trị quốc gia thông minh dựa trên nền tảng công nghệ ICT hiện đại như AI, IoT, Big data, Blockchain… với thể chế thông minh từ trung ương đến địa phương, cung cấp dịch vụ công trực tuyến chất lượng cao bởi Chính phủ số, chính quyền thông minh, cộng đồng thông minh, tăng trưởng thông minh, con người thông minh sống trong môi trường thân thiện, xanh và được đảm bảo bởi các nguồn lực chủ yếu như kinh tế tri thức, năng lực quản trị, vốn con người.

4. Nội dung Bộ chỉ số quản trị quốc gia trong Cách mạng 4.0; Tổng hợp được 5 trụ cột chính phản ánh về cơ bản hiệu lực, hiệu quả của quản trị quốc gia trong Cách mạng 4.0 như sau:

Trụ cột 1: Thể chế của quốc gia là yếu tố quan trọng, quyết định nhất, nền tảng nhất để bảo đảm công tác quản trị của một quốc gia hiệu quả, hiệu lực và cạnh tranh cao.

Trụ cột 2: Vai trò Chính phủ với tư cách là “nhạc trưởng” quản trị quốc gia.

Trụ cột 3: Môi trường kinh doanh - đầu tư thuận lợi, hấp dẫn, chi phí thấp nhất, cạnh tranh cao với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm, đồng thời cũng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế.

Trụ cột 4: Vị thế, thương hiệu của quốc gia trên thế giới ngày càng được khẳng định.

Trụ cột 5: Chất lượng sống của người dân là mục tiêu mà các quốc gia cần đạt được và thường được đánh giá qua các yếu tố chủ yếu như: (i) Tuổi thọ; (ii) Giáo dục; (iii) An toàn cá nhân; (iv) Môi trường sinh thái; (v) Mức sống - GDP; (vi) Bình đẳng giới; (vii) Phân biệt đối xử; (viii) Sự hài lòng về dịch vụ công.

III. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN KẾT QUẢ ÁP DỤNG BỘ CHỈ SỐ QUẢN TRỊ QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

1. Kết quả xếp hạng quốc gia khi áp dụng Bộ chỉ số quản trị quốc gia.

  1. Môi trường kinh doanh - DB.

Hình 2.1. Môi trường kinh doanh - DB

(2). Năng lực cạnh tranh quốc gia - GCI 4.0.

Hình 2.2. Xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu GCI 4.0 - ASEAN năm 2019

(3). Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu - GII. Giai đoạn 2013 - 2020, Chỉ số GII Việt Nam luôn được cải thiện (xem Hình 2.3), đặc biệt năm 2020, GII Việt Nam (WIPO công bố chiều 2/9/2021) tiếp tục duy trì được thứ hạng cao, xếp thứ 42/131 quốc gia (năm 2019 là 42/129) và giữ vị trí số một trong nhóm 29 quốc gia có cùng mức thu nhập và đứng thứ 3 khu vực ASEAN.

(4). Chỉ số hiệu quả Logictics - LPI. Cho đến nay đã 6 lần xếp hạng LPI.

(5). Chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch và lữ hành Việt Nam - TTPI. Năm 2020, WEF công bố cho thấy năm 2019, chỉ số TTPI Việt Nam đứng thứ 63/140, tăng 4 bậc so với xếp hạng năm 2017 (67/136).

(6). Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử - EIFG. Năm 2014, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.

(7). Chỉ số phát triển con người - HDI. Ngày 16/12/2020, Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) công bố Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2020 đánh dấu Kỷ niệm 30 năm ra đời của Chỉ số HDI và Báo cáo Phát triển Con người (HDR) đầu tiên, theo đó năm 2019, HDI của Việt Nam là 0,704, xếp thứ 117/189 quốc gia, tăng 1 bậc so với năm 2018.

(8). Hệ số tín nhiệm quốc gia - CR. Ngày 21/5/2021, Standard & Poor (S&P) thông báo giữ nguyên mức hệ số hạng tín nhiệm của Việt Nam ở mức BB và nâng triển vọng từ Ổn định lên Tích cực. Mức xếp hạng này phù hợp với mức xếp hạng của Moody’s đối với Việt Nam lần cuối ở mức Ba3 với triển vọng Tích cực và mức xếp hạng của Fitch với mức báo cáo lần cuối ở mức BB với mức triển vọng Tích cực.

(9). Chỉ số Chính phủ tốt của Chandler - CGGI. Năm 2021, Viện Quản trị Chandler, Singapore lần đầu công bố Chỉ số Chính phủ tốt - CGGI, theo đó Việt Nam xếp hạng thứ 57/104 quốc gia, đứng thứ 5 trong các nước ASEAN.

2. Những khó khăn thách thức  

(1) Nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của việc áp dụng các Bộ chỉ số quản trị quốc gia được quốc tế thừa nhận trong quá trình đánh giá hiệu quả quản trị ở Việt Nam.

(2) Chưa xác định được Bộ chỉ số quản trị quốc gia của Việt Nam thống nhất phù hợp với thông lệ quốc tế để áp dụng, bảo đảm đánh giá được hiệu quả quản trị của các ngành, lĩnh vực và địa phương trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.

(3) Hệ thống pháp luật điều chỉnh việc áp dụng, chuẩn hoá các chỉ số đánh giá hiệu quả quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh, hiệu quả chưa đáp ứng yêu cầu ở các góc độ.

(4) Hiện nay có 6 Bộ được Chính phủ giao đầu mối quản lý 6 Bộ chỉ số quản trị và nhiều Bộ, ban, ngành tham gia thực hiện một số chỉ số thành phần thuộc các Bộ chỉ số quản trị quốc gia được quốc tế thừa nhận này; chức năng, nhiệm vụ chưa được phân định cụ thể rõ ràng để phối hợp quản lý có hiệu quả, thống nhất.

 (5) Hợp tác quốc tế hiện nay ở mức trao đổi thông tin, cung cấp dữ liệu và kinh nghiệm thu thập, xử lý thông tin với các Tổ chức quốc tế quản lý các Bộ chỉ số quản trị quốc gia để bảo đảm việc xếp hạng được khách quan hơn, chưa thu hút được các dự án để nghiên cứu, xây dựng được Bộ chỉ số quản trị quốc gia Việt Nam thống nhất, phù hợp với tiêu chí các Bộ chỉ số quốc tế hiện nay để áp dụng.

   IV. MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT

1. Về nhận thức quản trị quốc gia là xu hướng quản trị mới trên thế giới, trong đó chủ yếu ứng dụng công nghệ ICT hiện đại của cách mạng 4.0 như AI, bigdata, IoT,… Trong quản trị quốc gia, Chính phủ, doanh nghiệp và công dân là các chủ thể, trong đó Chính phủ là chủ thể giữ vai trò rất quan trọng trong quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn lực công; điều phối, thu hút và hỗ trợ các nguồn lực tư đạt hiệu quả cao nhất; đồng thời cung cấp các dịch vụ công với chất lượng cao, chi phí thấp nhất. Việc đánh giá hiệu quả quản trị của các quốc gia là hết sức cần thiết để bảo đảm có thêm căn cứ tham khảo khách quan về mức độ bền vững, thịnh vượng trong quá trình cạnh tranh quốc tế trong hội nhập quốc tế và Cách mạng 4.0 vì mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống người dân trên cơ sở nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của quốc gia.

2. Mục tiêu cải thiện xếp hạng quốc tế về hiệu quả quản trị quốc gia Việt Nam

(1) Mục tiêu tổng quát: Nâng cao thứ hạng trong các xếp hạng của WB, WEF, WIPO, UN về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh toàn cầu… nhằm thích ứng với nền sản xuất mới trong cuộc Cách mạng 4.0[1].

(2) Mục tiêu cụ thể:

Năm 2025: Chỉ số GII thuộc 3 nước dẫn đầu ASEAN[2], Chỉ số LPI xếp hạng thứ 50 trên thế giới[3], Chỉ số EIDG trong nhóm 4 quốc gia đứng đầu ASEAN[4].

Năm 2030: Chỉ số DB và GCI 4.0 thuộc nhóm ASEAN 3[5], duy trì xếp hạng về chỉ số GII thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới.

Từ phân tích các Bộ chỉ số quốc tế về quản trị quốc gia chủ yếu ở trên, qua phân tích tổng hợp được một số giá trị tham khảo quan trọng chủ yếu sau cho Việt Nam trong quá trình áp dụng Bộ chỉ số quản trị quốc gia theo hướng hiệu quả, hiện đại, cạnh tranh trong hội nhập quốc tế và Cách mạng 4.0 sau:

(1). Quản trị quốc gia hiệu quả phải tạo được năng lực cạnh tranh toàn cầu cao trong đó Chính phủ với vai trò “nhạc trưởng” quản lý, thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực quốc gia đặc biệt các nguồn lực từ khu vực tư nhân, nguồn lực từ nước ngoài.

(2). Quản trị quốc gia có hiệu quả, cạnh tranh quốc tế cao được đánh giá qua các Bộ chỉ số xếp hạng định kỳ giữa các quốc gia với nhau.

(3). Các Bộ chỉ số về quản trị quốc gia được đa số quốc gia thừa nhận và được công bố bởi các tổ chức quốc tế hoặc công ty tư vấn quốc tế nổi tiếng.

(4). Các Bộ chỉ số về quản trị quốc gia tập trung đánh giá một hoặc nhiều yếu tố trong quản trị quốc gia, chủ yếu về năng lực cạnh tranh của quốc gia, môi trường kinh doanh - đầu tư, vị thế và thương hiệu quốc gia, thể chế và năng lực của Chính phủ và chất lượng cuộc sống của người dân.

3. Xây dựng Khung Bộ chỉ số quản trị quốc gia Việt Nam trong Cách mạng 4.0 (Vietnam National Governence Index - VNGI 4.0)

Nghiên cứu đề xuất Bộ chỉ số quản trị quốc gia Việt Nam - VNGI 4.0 đáp ứng yêu cầu “hiện đại, cạnh tranh và hiệu quả” với nguyên tắc thể hiện được năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam bao gồm quyền lực thực tế và quyền lực mềm là yếu tố trung tâm, phản ánh được đặc điểm chủ yếu của quản trị quốc gia với vai trò và lợi ích của 3 chủ thể trong quản trị quốc gia (Chính phủ, doanh nghiệp và công dân) và các yếu tố nền tảng đảm bảo cho năng lực cạnh tranh toàn cầu bền vững của Việt Nam trong Cách mạng 4.0, phù hợp với các nguyên tắc, chỉ số xếp hạng quốc gia của các Tổ chức quốc tế có uy tín hiện nay, được các quốc gia thừa nhận. Bộ Chỉ số NGI 4.0 gồm 5 trụ cột, 23 nhóm chỉ số, 144 chỉ số thành phần là (i) Vai trò của Chính phủ; (ii) Môi trường kinh doanh; (iii) Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; (iv) Vị thế quốc gia; và (v) Chất lượng cuộc sống người dân.

4- Đề xuất 5 giải pháp có tính khả thi để triển khai, áp dụng Bộ chỉ số VNGI 4.0 và chuẩn hoá các Bộ chỉ số trong nước của các ngành, lĩnh vực và địa phương theo Bộ chỉ số VNGI 4.0:

(i) Thống nhất nhận thức áp dụng Bộ Chỉ số VNGI 4.0 là giải pháp quan trọng để Việt Nam phát triển thành quốc gia số, bền vững, phù hợp xu thế phát triển của các quốc gia trong hội nhập quốc tế;

(ii) Hoàn thiện khung chính sách, pháp luật áp dụng Bộ Chỉ số VNGI 4.0;

(iii) Tổ chức bộ máy quản lý Bộ chỉ số VNGI 4.0;

(iv) Nâng cao năng lực quản lý nhà nước thực hiện Bộ chỉ số VNGI 4.0;

(v) Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương trong thực hiện Bộ chỉ số quản trị quốc gia VNGI 4.0.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tăng trưởng xanh và xây dựng thành phố Cảng xanh (Giải thưởng APEC 2019) - PGS TS Nguyễn Văn Thành.

2. Xây dựng và phát triển thành phố thông minh (NXB Chính trị quốc gia Sự thật 2018) - PGS TS Nguyễn Văn Thành.

3. Tư duy hệ thống cho mọi người (NXB Chính trị quốc gia Sự thật 2017) - PGS TS Nguyễn Văn Thành

4. The Ellen MacArthur Foundation.

5. Antonia Gawel, Head, Circular Economy Initiative.

6. The Platform for Accelerating the Circular Economy (PACE).

7. Circular Economy & Innovation, World Economic Forum.

8. EU Circular Economy Action Plan.

9. https://tcnn.vn/news/detail/6799/Quan_tri_Quoc_giaall.html, truy cập ngày 20/5/2021.

10. http://vjst.vn/vn/tin-tuc/4490/quan-tri-quoc-gia-trong-boi-canh-chuyen-doi-so.aspx, truy cập ngày 20/5/2021.

11. http://tapchimattran.vn/thuc-tien/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-ve-quan-tri-quoc-gia-trong-phong-chong-dai-dich-covid19-o-viet-nam-37100.html, truy cập ngày 20/5/2021.

12. https://en.wikipedia.org/wiki/Smart_city, truy cập ngày 19/4/2020.

13. https://en.wikipedia.org/wiki/Index_(economics), truy cập ngày 1/5/2021

14. https://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_tri, truy cập ngày 1/5/2021

15. https://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_ly, truy cập ngày 1/5/2021

16. https://vietnamfinance.vn/chi-so-la-gi-20180504224208650.htm,truy cập ngày 20/5/2021.

 

 

[1] Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 của Chính phủ

[2] Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị

[3] Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ

[4] Nghị quyết 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ

[5] Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị

Thượng tướng, PGS.TS Nguyễn Văn Thành Nguyên uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương

TÂM ĐIỂM

CÁC ĐỀ ÁN

Video