Nghệ nhân ưu tú dệt những điều khác thường

25/11/2023
Nghệ nhân Ưu tú Phan Thị Thuận (làng lụa Phùng Xá, Mỹ Đức, Hà Nội) là người làm thành công vải lụa từ tơ sen - loại tơ lụa mong manh mà quý giá như sợi vàng. Đã bước vào ngưỡng tuổi 70, bà vẫn không ngừng nghỉ những ý tưởng sáng tạo…
Thu hoạch sen

Biến con tằm thành “thợ dệt”

Những năm 70 của thế kỷ trước, làng quê Phùng Xá từng được gọi là “thủ phủ dâu tằm” của miền bắc. Ven sông Đáy được phủ xanh bởi hàng chục nghìn ha ruộng dâu, làng xã rộn ràng tiếng quay tơ, dệt lụa. Danh tiếng của Phùng Xá không phải đến khi đó mới nổi, mà đã có nền tảng từ khi “Trạng Bùng” Phùng Khắc Khoan học được kỹ thuật dệt lượt khi đi sứ phương Bắc và mang về đất Việt.

Nghề nuôi tằm dệt tơ ở nước ta dù đã có từ lâu đời, nhưng thời ấy, người dân mới chỉ biết dệt lụa, cao nhất là lụa đậu, còn gấm, vóc, the, lượt… phải mua ở nước ngoài. Theo sách xưa, sau khi về nước, Phùng Khắc Khoan đã dành thời gian đi đến các làng nuôi tằm, dệt tơ đem kỹ thuật làm vải lượt truyền cho nhân dân. Nhờ đó, từ các làng dệt ven sông Tô như Nghi Tàm, Trúc Bạch, Yên Thái, Bái An, Trích Sài… đến vùng ven sông Nhuệ, có nhiều gia đình biết đến dệt lượt. Vùng sông Nhuệ chính là nơi tiếp thu và phát huy tốt nhất kỹ thuật của nghề này, làm nên loại lượt mỏng, nhẹ, mịn màng, tạo vẻ thướt tha, thanh quý cho người mặc.

Ấy thế mà ở ngay quê hương của “ông tổ nghề dệt”, cũng có lúc nghề truyền thống bị thoái trào. Năm 1984, Nhà máy ươm tơ Mỹ Đức dừng thu mua kén, hợp tác xã bỏ toàn bộ diện tích trồng dâu chuyển sang trồng lúa. Người dân dần lãng quên nghề xưa. Qua nhiều giai đoạn thăng trầm, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nước ngoài, hàng hoá chủ yếu nhập từ Trung Quốc… nghề tằm tang tưởng như đứt đoạn trên mảnh đất này. Những năm đầu 2000, hầu như các người thợ dệt đều không còn làm nghề, khung dệt bị dỡ ra, vứt đầy đường.

Là kế toán của hợp tác xã nông nghiệp khi đó, bà Phan Thị Thuận chua xót và lặng lẽ mang khung dệt về lắp lại, với khát vọng nhen lại sức sống làng nghề.

“Sinh ra và lớn lên ở Phùng Xá, bà và mẹ đã dạy cho tôi về lá dâu, con tằm, sợi vải từ khi còn bé. Tôi không đành lòng thấy nghề dệt biến mất”, bà Thuận tâm sự. Cần cù, nhẫn nại, dệt theo truyền thống, rồi đi hội chợ, rủ các chị em trong làng dần quay lại với nghề, từng ngày một, bà Thuận đã cùng với cái xưởng nhỏ bên bờ sông của mình, mong mỏi lấy lại âm thanh rộn rã của tiếng thoi, hình ảnh rực rỡ của nong kén.

Thăm Phùng Xá bây giờ, thấy nổi bật nhất là một cánh đồng dâu bên bờ sông, mà chúng còn xanh được như vậy sau nhiều năm nghề dệt thoái trào, chính là nhờ công sức của bà Thuận. Đi dạo quanh được một lát, tôi thấy tấp nập các chuyến xe máy đến đỗ ở xưởng. Đó là những người quanh làng mang tằm tới cho xưởng của bà. Một tay bà thu mua hết các lứa tằm, khi chúng đến độ chín.

Theo cách thông thường, ai cũng thấy tập tính con tằm là đan thành áo kén để bảo vệ cơ thể. Nhưng bao nhiêu năm quan sát, gắn bó với con tằm… bà Thuận không nghĩ theo cách thông thường đó. Bà tự nhủ, tại sao lại cứ phải đan thành kén, nếu để tằm nhả tơ tự do thì có được không? Nghĩ là làm, bà thử nghiệm ngay trên những nong tằm của mình. Thả tằm tự do trên một mặt phẳng, bà cho tằm nằm theo hàng lối để chúng nhả ra những sợi tơ trên mặt phẳng đó. Vậy là con tằm không quấn thành kén, những sợi tơ mà chúng nhả ra quấn tự nhiên vào nhau, tạo ra mảnh lụa làm hoàn toàn từ “tằm thợ”.

Bà Thuận hài lòng với kết quả này: “Một con người phải nuôi ăn học bao nhiêu năm trời, rồi dạy nghề thì mới dệt được lụa. Còn con tằm, mình nuôi nó ăn lá dâu, trong 20 ngày, nó đã nhả ra tơ từ trong bụng, rồi theo ý mình mà tự dệt thành một tấm lụa bền chắc, không người thợ nào sánh được”.

Mảnh lụa do tằm tự dệt rất phẳng mịn, độ gắn kết tự nhiên mà chắc chắn, dùng thời gian dài cũng không bị xô lệch. Không những thế, khi cho tằm thay người dệt vải là bà Thuận đã tiết kiệm được các chi phí như kéo kén, ươm tơ, cào bông… Bà tính toán, nếu chăn bông truyền thống phải mất 15 nhân công, thì với chăn bông tằm tự dệt chỉ mất sáu nhân công, tức giảm được gần hai phần ba công sức con người.