Chuyên gia công tác xã hội bàn về đào tạo nghề công tác xã hội ở Việt Nam

28/08/2013
Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ xác định, đến năm 2020 Việt Nam có khoảng 60.000 cán bộ, nhân viên, cộng tác viên nghề công tác xã hội (CTXH) được đào tạo với 35.000 người được đào tạo chính thức và đào tạo lại, 25.000 người được đào tạo qua các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng kiến thức.

Nói về vấn đề này, Nguyễn Thị Hải - Chủ nhiệm Câu lạc bộ CTXH chuyên nghiệp ở TP HCM chi sẻ nhiều vấn đề xung quanh chất lượng và số lượng đào tạo.

Nói về ngành CTXH ở nước ta hiện nay, bà Nguyễn Thị Hải cho rằng nghề CTXH ở Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm và đã có nhiều bước tiến quan trọng từ năm 1998 đến nay. Dấu mốc quan trọng phải kể đến là là Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mã số đào tạo ngành CTXH bậc đại học và cao đẳng năm 2004. Quyết định 32/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 đã mở ra một bước ngoặt quan trọng cho CTXH chuyên nghiệp tại nước ta.

Trước đây, chưa có những quy định của Nhà nước thì nghề CTXH nước ta vẫn tồn tại. CTXH chuyên nghiệp trên thế giới đã phát triển hơn 100 năm còn ở nước ta trước năm 1975 đã có 2 trường đào tạo CTXH ở Sài Gòn. Sau giải phóng, vào năm 1992, bộ môn CTXH được giảng dạy tại Khoa Phụ nữ học, ĐH Mở Bán công TP HCM. Đây là lớp cử nhân CTXH đầu tiên được mở ra sau ngày giải phóng. Trước nhu cầu của xã hội, những người đi học CTXH đa số đã đi làm và sau khi học thì họ trở về đơn vị để tiếp tục công tác như nhân viên CTXH ở Hội Phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ, Đoàn Thanh niên, xơ ở các nhà thờ, ni cô ở các chùa, nhân viên các nhà mở, mái ấm… Có thể nói, 10 năm đầu tiên bộ môn CTXH tại Khoa Phụ nữ học đào tạo rất có chất lượng. Đến nay đã có hàng nghìn sinh viên được đào tạo về nghề này. Bên cạnh đó, Hội KHTLGD TP HCM khuyến khích hình thành các chi hội CTXH để góp phần giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội trong cộng đồng.

Nghề CTXH ở nước ta phát triển mạnh mẽ do chính sách mở cửa, nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO) vào hoạt động ở Việt Nam. Đồng thời, hậu bao cấp là bao vấn đề xã hội khác, chuyện trẻ em lang thang và gái mại dâm nhiều vô kể, nhất là ở các thành phố lớn nên yêu cầu bức thiết lúc bấy giờ là phải có cái gì đó khác ngoài thuốc điều trị, hệ thống bảo vệ của chính quyền các cấp. Cũng thời gian này, Hội Bảo trợ trẻ em TP HCM kết hợp với Quỹ Nhi đồng Anh làm nghiên cứu về nhu cầu trẻ em lang thang do Th.s Nguyễn Thị Oanh (là người phụ nữ đầu tiên ở Việt Nam lấy bằng Thạc sĩ Phát triển cộng đồng tại Philippines và đưa ngành học này về Việt Nam - PV) làm chủ trì. Qua nghiên cứu thấy rằng, mỗi em có một nhu cầu khác nhau chứ không chỉ là cần một nơi để ăn ở. Trước bao yêu cầu bức xúc của xã hội như vậy nên nghề CTXH phải hồi sinh.

Bà Hải cũng cho rằng hiện còn có sự nhầm lẫn này là vì nhầm lẫn trong cách gọi và cách thực hiện, xã hội ta gọi công tác từ thiện là xã hội từ thiện và từ thiện theo cách nhìn của xã hội ta từ xưa đến nay là ban cho. Ban cho thường giải quyết được nhu cầu trước mắt và tâm lý người đi ban cho sẽ có được tiếng là người tốt; hay có người làm từ thiện thầm lặng thì cũng được phúc đức cho mình và có cảm giác rằng “ban cho” này là vì mình. Từ thiện thường không đem lại hiệu quả lâu dài nên sau này người ta nói đến chuyện “cho cần câu chứ không cho con cá”, có thể thấy thông qua một số chương trình trên truyền hình như “Lục lặc vàng”, “Chung sức”, “Ngôi nhà mơ ước” và các chương trình học bổng… Tuy nhiên, nó cũng chỉ là những giải pháp ngắn hạn.

Còn CTXH là giải quyết những vấn đề của xã hội, bệnh xã hội nên nó cần tính nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp như bao nghề nghiệp khác. CTXH đã trở thành một nghề được coi trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Với trọng tâm nghề nghiệp hướng đến trợ giúp những người yếu thế trong xã hội như người nghèo, người cao tuổi, phụ nữ, trẻ em, bị bệnh hiểm nghèo… Và CTXH đã, đang và sẽ phấn đấu, đóng góp vào mục tiêu xây dựng một thế giới công bằng, bình đẳng và phát triển.

Do đó, nếu làm CTXH mà không được đào tạo bài bản, không có tay nghề, không có đạo đức nghề nghiệp thì sản phẩm họ tạo ra sẽ thô kệch như ông thợ mộc chỉ có cái đục, cái bào cùn.

Nói về chất lượng đào tạo, bà Hải đã đề cập đến chất lượng giảng viên nghề công tác xã hội. Đó là lực lượng giảng viên CTXH còn thiếu và nhiều giảng viên chưa đọc được tài liệu bằng tiếng Anh trong khi ngành này mới có ở nước ta chưa lâu nên tài liệu dịch sang tiếng Việt chưa nhiều. Đa số giảng viên dạy CTXH hiện nay là học ngành gần như xã hội học, nhân học, tâm lý học, lịch sử, chính trị học… nên sau một thời gian bùng nổ đào tạo CTXH nhưng chất lượng không cao. Còn học sinh thi vào ngành này cũng là điều đáng để bàn. Nhiều em thi vào ngành này đa số không có động cơ học thật sự, nhiệt huyết với nghề không có, ngồi học mà cứ nhấp nhổm. Trong khi ở nước ngoài muốn học CTXH thì phải trải qua vòng phỏng vấn bên cạnh việc thi cử chứ không chỉ đủ điểm sàn là đậu như ở nước ta hiện nay.

Theo bà Hải, đào tạo CTXH ở nước ta hiện nay còn nhiều vấn đề phải bàn. Nhiều trường đào tạo đang gặp khó khăn, thiếu kinh phí buộc họ phải tuyển sinh nhiều nhưng tuyển sinh nhiều thì nơi đâu mà thực hành và giáo viên đâu mà đủ dạy cho có chất lượng. Vì ngành này một năm phải đi thực tập 3 lần (từ năm thứ 2 đến năm thứ 4). Riêng tại TP HCM nếu có mấy ngàn sinh viên học mỗi năm thì cơ sở đâu mà các em thực hành và làm sao đủ người hướng dẫn cho các em. Chứ thực hành CTXH mà như đi tour du lịch thì chắc chắn là thất bại. Còn nếu chúng ta đào tạo CTXH có chất lượng thì sinh viên ra trường cơ hội việc làm sẽ không ít. Và sắp tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ cấp mã ngành đào tạo thạc sĩ CTXH ở nước ta. Đó là một tín hiệu đáng mừng cho sự phát triển của CTXH ở Việt Nam tuy nhiên chất lượng đào tạo là vấn đề mà nhiều người tâm huyết với ngành đang rất lo lắng.

TÂM ĐIỂM

CÁC ĐỀ ÁN

Video