Ấn Độ và các hoạt động phòng chống tác hại của thuốc lá
Gần 40% các căn bệnh và 50% trường hợp ung thư tại Ấn Độ có nguyên nhân sâu xa từ thuốc lá. Tại đất nước Nam Á này, tính riêng năm 2002-2003 tổng thiệt hại về kinh tế của 3 căn bệnh ung thư, lao phổi và tim mạch do thuốc lá gây ra ước tính khoảng 300.833 triệu Ru-pi (tương đương với 7,2 tỷ USD).
Theo Điều tra Sức khỏe gia đình toàn quốc lần thứ 3 của Ấn Độ được tiến hành năm 2006, có 57% nam giới và 10,9% phụ nữ Ấn Độ sử dụng thuốc lá dưới nhiều hình thức. Các dạng thuốc lá chủ yếu là bidis, thuốc lá cuộn tay, thuốc lá điếu không đầu lọc, nhiều loại sản phẩm thuốc lá nhai và thuốc lá điếu khác. Ấn Độ đóng vai trò quan trọng trong phát triển Hiệp định khung về kiểm soát thuốc lá (FCTC), là nước thứ 7 trên thế giới phê chuẩn FCTC vào tháng 2 năm 2004.
Năm 2003, Chính phủ Ấn Độ ban hành Pháp lệnh về thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá, cấm quảng cáo, đưa ra các nguyên tắc về kinh doanh, sản xuất, phân phối thuốc lá. Pháp lệnh được áp dụng đối với tất cả các sản phẩm có chứa thuốc lá ở bất cứ dạng nào như thuốc lá điếu, thuốc xì gà, bidis, thuốc lá dạng bột... Pháp lệnh quy định rõ việc cấm sử dụng thuốc lá ở các nơi công cộng, mức phạt 200 Ru-pi[1]/ lần vi phạm. Các loại quảng cáo trực tiếp hay gián tiếp, xúc tiến và tài trợ các sản phẩm thuốc lá bị phạt tới 1.000 Ru-pi. Mức phạt 5.000 Ru-pi, phạt tù hoặc cả 2 hình phạt kết hợp được áp dụng với các trường hợp vi phạm về thể hiện các khuyến cáo trên bao bì sản phẩm thuốc lá...
Ấn Độ áp dụng cơ chế đa ngành trong kiểm soát sử dụng thuốc lá. Lực lượng đa bộ ngành được thành lập ở cấp quốc gia, đại diện là các bộ ngành liên quan, các bang lớn, các cơ quan dân sự trong cả nước. Ban chỉ đạo phòng chống tác hại thuốc lá được thành lập dưới sự kiểm soát của Chủ tịch hội đồng thư ký về sức khỏe, giám sát mức độ vi phạm của các cơ quan, cá nhân trong phạm vi cả nước. Hội đồng tương tự được thiết lập tại các Bang và các Quận.
Hiện nay Ấn Độ đang tích cực thực hiện Chương trình kiểm soát thuốc lá quốc gia (NTCP). Chương trình này được bắt đầu vào năm 2007-2008 tại 18 quận của 9 bang khác nhau. Năm 2008-2009 tăng cường các hoạt động tại 42 quận thuộc 21 bang. Chương trình bao gồm 7 nội dung chủ yếu trong đó có hoạt động nghiên cứu, đào tạo, hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức, thiết lập các ủy ban kiểm soát thuốc lá cấp bang. Nhằm tăng cường giám sát việc sử dụng thuốc lá, Ấn Độ xây dựng 5 phòng thí nghiệm kiểm định sản phẩm thuốc lá và 1 phòng thí nghiệm dành cho các hoạt động nghiên cứu liên quan.
Ngoài ra, chính phủ Ấn Độ rất quan tâm đến việc chuyển đổi sinh kế/dạy nghề thay thế cho những người cuộn thuốc Bidi[2], chủ yếu là phụ nữ và học sinh, thu nhập bình quân khoảng 50 Ru-pi mỗi ngày. Các hoạt động can thiệp ở cấp cơ sở về dạy nghề, chuyển đổi sinh kế cho phụ nữ và trẻ em cuộn thuốc bidi được triển khai tích cực ở một số bang như Maharashtra, Orissa, Tây Bengal, Bihar và Jharkhand, Tamil Nadu và
Là nước chủ nhà của Hội thảo thuốc lá thế giới lần thứ 14 (diễn ra tại thành phố Mumbai, bang Marahastra từ ngày 8-12/3/2009), Ấn Độ đã để lại ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè thế giới khi thực hiện nghiêm ngặt chính sách cấm hút thuốc lá tại nơi công cộng [3]. Tại Mumbai, các nhà hàng, nhà ga, bến xe buýt... dường như không có khói thuốc, thuốc lá không được bày bán ở nơi công cộng.
Tại Hội thảo thuốc lá thế giới lần thứ 14, chính phủ, các cơ quan, các tổ chức, cá nhân của Ấn Độ thể hiện quyết tâm đấu tranh giảm thiểu tác hại của thuốc lá, phản đối các hành động thúc đẩy phát triển công nghiệp thuốc lá trên đất nước Nam Á đông dân nhất thế giới này cũng như trên phạm vi toàn cầu. Tham luận của các đại biểu Ấn Độ về khu vực không khói thuốc, các giải pháp giảm thiểu tác hại của thuốc lá, các giải pháp cai nghiện thuốc lá v.v... được bạn bè thế giới quan tâm và đánh giá cao.
[1] Tỷ giá khoảng 50 Ru-pi (Rupees) = 1USD
[2] Bi di là loại thuốc lá cuộn tay, vỏ cuộn không phải bằng giấy mà bằng 1 loại lá cây đặc biệt. Thuốc lá bidi được bán rất rẻ ở Ấn Độ, tác hại của thuốc lá bidi cao gấp nhiều lần so với thuốc lá điếu thông thường.
[3] Chính sách này có hiệu lực từ 2/10/2008