Lồng ghép giới vào chính sách, chương trình phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam
Thực tế, pháp luật, chương trình hay chính sách về HIV/AIDS bị chi phối rất nhiều từ các chuẩn mực, giá trị và mong đợi xã hội về giới trong các nền văn hóa và bối cảnh xã hội khác nhau. Các phân tích giới về HIV/AIDS đã cho thấy những thiếu hụt trong các chương trình dự phòng, chăm sóc, điều trị và giảm thiểu tác động của HIV/AIDS đối với cả phụ nữ và nam giới.
Trước đây, các can thiệp về HIV/AIDS chủ yếu giới hạn ở nhóm nguy cơ cao như ma túy, mại dâm. Do những khuôn mẫu về giới mà sự can thiệp này đã bỏ qua những đối tượng và các mối liên quan khác. Thực chất, tính dễ bị tổn thương với HIV/AIDS không chỉ giới hạn trong mối quan hệ với người hành nghề mại dâm mà còn cả trong các mối quan hệ khác như với chồng, bạn tình hay trong quan hệ đồng giới.
Rất nhiều phụ nữ không có liên quan đến mại dâm hay ma túy đã bị lây nhiễm HIV nhưng lại không phải là đối tượng của các chính sách, chương trình can thiệp dự phòng và chăm sóc, điều trị. Việc tuyên truyền sử dụng bao cao su chủ yếu hướng đến phụ nữ trong khi đó lại bỏ quên đối tượng sử dụng là nam giới.
Nhận thức và giải quyết những tác động bất bình đẳng giới được cộng đồng các đối tác liên quan ở Việt
Cho đến nay, môi trường chính sách về HIV/AIDS cũng như vấn đề bình đẳng giới ở Việt
Chiến lược quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020 coi hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi cho thanh niên và một số vấn đề liên quan đến giới là một trong những giải pháp xã hội quan trọng.Chiến lược yêu cầu phải “nâng cao nhận thức về giới và cải thiện kỹ năng phân tích giới cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và triển khai chương trình chăm sóc và phòng, chống AIDS”. Chín chương trình hành động cơ bản đã được xây dựng, bao gồm:
Một là: Chương trình thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi phòng lây nhiễm HIV, phối hợp các chương trình phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm.
Hai là: Chương trình can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm.
Ba là: Chương trình chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS.
Bốn là: Chương trình giám sát HIV/AIDS, theo dõi, đánh giá chương trình.
Năm là: Chương trình tiếp cận, điều trị HIV/AIDS.
Sáu là: Chương trình dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con.
Bảy là: Chương trình quản lý và điều trị các bệnh nhiễm khuẩn qua đường tình dục.
Tám là: Chương trình an toàn truyền máu.
Chín là: Chương trình tăng cường năng lực và hợp tác quốc tế trong phòng, chống HIV/AIDS