Chuyện người phụ nữ bắn rơi máy bay Mỹ
Bắn rơi máy bay bằng súng trường
Không có người dẫn đường, chỉ biết thông tin ban đầu là trong chiến dịch Hoài Đức - Đức Linh ngày trước có một người phụ nữ kiên cường từng bắn rơi máy bay Mỹ. Vì vậy phải khó khăn lắm chúng tôi mới tìm đến được nhà của người phụ nữ này ở thôn 2 xã Mê Pu. Mùa mưa lại trúng mùa gặt nên con đường dẫn vào nhà bà Tuyết lầy lội khó đi, vướng víu bởi đất đỏ và những chiếc xe tải chở rơm chạy ào qua. Hỏi thăm mãi, cuối cùng cũng đến được nơi cần tìm. Đó là một căn nhà tình nghĩa đơn sơ nằm cạnh giếng nước trong một khuôn viên rộng rãi, tựa như người đàn bà cô đơn đang sống lặng lẽ trong căn nhà. Thoạt nhìn trông bà già hơn so tuổi 64 của mình. Bởi những vết thương của bom đạn, của những trận đòn tra tấn ngày ấy vẫn còn hằn sâu và hành hạ bà cho đến tận ngày nay. Biết chúng tôi lặn lội về đây tìm người phụ nữ anh dũng từng bắn rơi máy bay Mỹ ngày trước, đưa tay rót nước mời khách đường xa, bà bồi hồi nhớ lại một thời hào hùng của mình.
Bà Tuyết bên căn nhà tình nghĩa của mình |
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở Quảng
Địch bắt
Nói chuyện với chúng tôi, bà Tuyết tự nhận mình đã già vì những trận đòn ngày trước đã khiến sức khỏe bà càng kiệt quệ. Vậy mà khi kể về những trận đánh oanh liệt của bà và các đồng đội trong chiến tranh, mắt bà luôn rực sáng. Bà vẫn nhớ như in mọi thứ, từ tên tuổi của từng đồng đội đến ngày tháng năm của các trận đánh lớn nhỏ mà mình từng tham gia. Tham gia và chứng kiến nhiều trận đánh ác liệt, nhưng có lẽ trận đánh làm bà ấn tượng và nhớ nhất là trận Hoài Đức tại thôn 9 Võ Đắc (thị trấn Đức Tài ngày nay) vào năm 1971. Lúc đó bà đang là Trung đội trưởng Trung đội công binh nữ của huyện Hoài Đức. Đơn vị Lê Thị Hồng Gấm của bà có nhiệm vụ phá càn, đánh bộ binh, đánh mìn, làm ách tắt giao thông, ngăn không cho địch chi viện. Trong lúc làm nhiệm vụ tại Võ Đắt, bà và các đồng đội bị mai phục trúng mìn, trận ấy đồng đội hy sinh gần hết, bà là một trong số ít người may mắn sống sót.
“Còn sống nhưng tôi bị thương từ đầu đến chân, nửa người bên phải bị liệt hoàn toàn, máu ra nhiều khiến tôi bất tỉnh và bị địch bắt. Đánh trận ấy, cổ họng tôi bị thương rất nặng do các mảnh mìn văng ra đã cắt đứt dây thanh quản, tôi không thể nói được. Sau khi bị bắt, địch giam tôi tại nhà tù ở Biên Hòa sau đó đưa ra Quy Nhơn rồi về Cần Thơ. Mãi đến tháng 3/1973 khi Hiệp định Pari được kí kết về trao trả tù binh, tôi mới được trả tự do. Những ngày trong tù, địch tra tấn tôi rất dữ dội, cổ họng tôi bị thương không nói được nhưng chúng tưởng tôi giả vờ không nói nên đánh dữ lắm. Tôi chết đi sống lại nhiều lần, những vết thương trong trận bị phục kích chưa kịp khép miệng, thì nay tiếp tục bị tra tấn dã man, tưởng chừng tôi không thể vượt qua được. Đau đớn tột cùng, nhưng với lòng căm thù giặc sâu sắc và niềm tin mãnh liệt vào Đảng, vào cách mạng, tôi chưa bao giờ bị lung lay ý chí của mình” – ánh mắt sáng ngời, bà Tuyết nhớ lại thời oanh liệt của mình.
Hòa bình, mang trên người đầy những vết thương của chiến tranh, không có danh hiệu gì cho mình, bà trở về nhà với 3 từ “nghỉ mất sức” để hàng tháng nhận được hơn triệu đồng đủ để mình bà sống đạm bạc qua ngày. Tuổi thanh xuân của mình bà đã dành hết cho cuộc kháng chiến, 16 năm trời không nói được, đến năm 1987 khi vết thương bắt đầu lành lặn bà mới bắt đầu tập nói mà vẫn không chuẩn. Trong chiến tranh bà nhanh nhẹn, bản lĩnh kiên cường còn hiện tại nhìn bà sống lặng lẽ một mình với những vết thương hành hạ thể xác khi trái gió trở trời mà nhiều đồng đội, đồng chí của bà khi ghé thăm không khỏi xót xa. Vậy nên chúng tôi hiểu mong muốn lớn nhất của bà bây giờ là được giám định lại tỷ lệ thương tật trên cơ thể, vì chế độ “mất sức” hiện tại bà đang nhận, chưa xứng với những công lao mà bà đã cống hiến cho quê nhà, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tiễn chúng tôi ra cửa, bà vẫn không quên nhắn nhủ thế hệ trẻ hôm nay phải biết phát huy truyền thống anh hùng của quê hương; không ngừng phấn đấu học tập, rèn luyện phẩm chất đạo đức để góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.