Người phụ nữ Thái và vai trò lãnh đạo Làng Cằng
Sinh ra và lớn lên tại Làng Cằng, xã Môn Sơn, một xã biên giới vùng sâu vùng xa thuộc huyện miền núi Con Cuông, tỉnh Nghệ An, có biên giới giáp với Lào, cách trung tâm huyện 20km, địa bàn rộng gồm 12 thôn bản và 18 chi bộ. Môn Sơn là cái nôi của quê hương giàu truyền thống cách mạng, nơi thành lập Chi bộ Đảng dân tộc thiểu số đầu tiên của tỉnh Nghệ An, có Đồn Biên phòng 555 đứng chân. Xã có 3 dân tộc anh em (chiếm trên 90% dân số) cùng chung sống xen kẽ gồm dân tộc Thái, Kinh, Đan Lai. Làng Cằng cách trung tâm xã 3 km, có 141 hộ với 595 nhân khẩu, 100% là dân tộc Thái làm nông nghiệp. Hội viên phụ nữ làng tham gia sinh hoạt thường xuyên 108/126 chị đạt 85,71%.
Được cha mẹ nuôi nấng cho ăn học trong hoàn cảnh gia đình thuần nông khó khăn, nên chị luôn cố gắng và tâm niệm phải làm được cái gì đó có ích cho xã hội. Sau khi học hết cấp 3, do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chị ở lại quê hương làm ruộng, phục vụ trong thôn bản. Đầu tiên chị được bầu làm Bí thư Chi đoàn. Sau khi lập gia đình, sinh con, chị tham gia sinh hoạt tại Chi hội phụ nữ làng Cằng. Năm 2000, chị được chị em bầu làm Chi hội trưởng phụ nữ và vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Năm 2005, được sự tín nhiệm của bà con, chị được bầu làm trưởng bản. Trước trách nhiệm lớn lao đó, chị không khỏi băn khoăn lo lắng. Chị đem những trăn trở, lo lắng đó về trao đổi với gia đình, chồng con. Thật may mắn, chị được chồng con đồng tình ủnghộ, tạo điều kiện giúp đỡ để chị hoàn thành mọi công việc được giao.
Sự đồng tình ủng hộ của bà con lối xóm và sự tạo điều kiện của gia đình đã tiếp sức cho chị vững bước trong cương vị mới. Nhưng không vì thế mà chị bỏ bê công việc gia đình, chị luôn nỗ lực cố gắng thu xếp công việc gia đình, công việc xã hội cho hợp lý. Hàng ngày, sau bữa cơm tối chị lại cùng chồng bàn bạc, sắp xếp công việc đồng áng, vườn tược, gia đình… của ngày mai để chồng con biết giúp đỡ chị nếu chị bận việc lớn, việc tập thể. Những lúc ở nhà, chị phải tranh thủ thời gian làm việc nhà nhiều hơn, phải chăm lo cho gia đình, con cái học hành để bù lại những lúc bận việc tập thể. Vợ chồng chị sinh được 2 cháu, các cháu ngoan ngoãn, chăm học, biết tranh thủ thời gian rảnh rỗi giúp cha mẹ việc nhà. Hiện nay cháu lớn 19 tuổi đang học đại học Nông lâm Bắc Giang và cháu nhỏ 16 tuổi đang học lớp 11.
Được Đảng và nhân dân giao phó quản lý, điều hành, lãnh đạo nhân dân thực hiện các mục tiêu kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng địa phương,… chị luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi học hỏi kinh nghiệm của những bậc lão thành, của những người đi trước để tìm cách điều hành, lãnh đạo hợp lý. Sự cố gắng của chị đã được bà con đồng tình hưởng ứng, gia đình đồng tình và tạo điều kiện.
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”, trong những năm qua, hoà cùng phong trào thi đua yêu nước của huyện nhà, Hội LHPN các cấp, bản thân chị luôn coi trọng việc chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện phong trào thi đua yêu nước trong toàn thể quần chúng nhân dân. Đặc biệt là phong trào thi đuacủa Hội LHPN Việt Nam phát động, bản thân chị vừa là hội viên phụ nữ vừa là người cán bộ trong thôn bản nên chị thấy quyền và nghĩa vụ của mình càng lớn lao hơn.
LàngCằng là một đơn vị khó khăn nhất nhì trong xã với điều kiện địa hình, địa lý không được thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi phụ thuộc vào thiên nhiên, dân số đông, chủ yếu làm nông nghiệp, trình độ dân trí không đồng đều, việc ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất còn hạn chế… Vì vậy công tác vận động, điều hành nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và nghĩa vụ đối với Nhà nước gặp nhiều khó khăn, việc tuyên truyền vận động để bà con hiểu và làm theo không phải làm được trong ngày một, ngày hai mà là cả một quá trình lâu dài, thường xuyên, liên tục, không chỉ tại các cuộc họp, qua loa đài truyền thanh mà phải trực tiếp với bà con. Bằng tình cảm chân thành của mình, chị luôn gần gũi, hoà đồng với quần chúng, từ đó nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân, lắng nghe nhân dân phải ánh, tuyên truyền các chỉ thị nghị quyết, chủ trương đường lối của Đảng, của cấp trên tới bà con. Trong quá trình triển khai thực hiện, chị đặc biệt coi trọng quy chế dân chủ cơ sở, thực hiện theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân lâm, dân kiểm tra”. Mọi việc đều công khai tới tận người dân, để dân để thảo luận, bàn bạc thống nhất. Tuy nhiên, chị luôn đảm bảo dân chủ gắn với kỷ cương, kỷ luật, không để dân chủ, tự do quá trớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác. Trong công tác vận động, tuyên truyền nhân dân, chị luôn xây dựng mối liên kết, phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, ban cán sự, các ban, ngành đoàn thể thôn bản như: Mặt trận, Chi hội phụ nữ, Chi đoàn thanh niên. Hội Cựu chiến binh, Hội nông dân… Quan tâm chỉ đạo xây dựng các mô hình, chú trọng kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện các phong trào thi đua giữa các đoàn thể trong thôn bản.
Đối với việc thực hiện phong trào thi đua yêu nước “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với thực hiện mục tiêu “Xây dựng người phụ nữ Việt Nam yêu nước, giàu tri thức, có sức khoẻ, năng động sáng tạo, có lối sốn văn hoá, có lòng nhân hậu, quan tâm tới lợi ích xã hội và cộng đồng” do Chi hội phụ nữ phát động, chị luôn xác định mình là một hội viên của phụ nữ phải gương mẫu, đầu tàu, đi đầu trong mọi công tác, phải sắp xếp thời gian, công việc gia đình hợp lý, ổn định để tham gia phong trào tốt. Đối với công tác, chị luôn xác định phải tâm huyết, nhiệt tình, phải hoàn thành trách nhiệm với tập thể. Đối với chi đoàn thanh niên, phải vận động đoàn viên thanh niên làm tốt mọi công tác được giao, xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” để chi đoàn thanh niên thực sự là lực lượng nòng cốt, là trợ lý đắc lực của thôn bản. Đối với Hội cựu chiến binh, phải vận động cho hội viên giữ được khí chất của người lính, anh bộ đội cụ Hồ phù hợp với công tác hiện tại.
Từ một đơn vị khó khăn yếu kém trong xã, nhờ sự chỉ đạo tận tình của cấp uỷ, chính quyền cấp trên, sự ủng hộ nhiệt tình của bà con nhân dân, đến nay phong trào của thôn bản dần dần từng bước được củng cố, xây dựng và ngày càng phát triển, cụ thể:
Về nông nghiệp: chị luôn bám các chỉ thị nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên, triển khai xuống người dân kịp thời, chỉ đạo nhân dân làm mùa đúng nông lịch, đúng thời vụ, cơ cấu giống cây đúng chủng loại, hợp lý. Cơ cấu giống lúa lai ở những vùng chủ động nước, thâm canh tốt, chuyển đổi một số diện tích không đủ nước tưới sang trồng màu 3 vụ/ năm (cấu lạc, đậu xanh, ngô…). Phối hợp tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao KHKT và vận động bà con tích cực học tập, tiếp thu kiến thức KHKT... Do đó, năng suất ngày một tăng, từ 30tạ/ha năm 2005, năm 2010 lên 50-57 tạ/ha.
Về chăn nuôi: vận động bà con xây dựng chuồng trại chăn nuôi hợp lý, xa nhà ở; tuyên truyền để bà con hiểu cần tiêm phòng gia súc, gia cầm đầy đủ để chống dịch bệnh, tăng đàn gia súc gia cầm lên hàng năm, chú trọng chất lượng theo hướng sản xuất hàng hoá. Đến nay, thôn có 327 con trâu, 150 con bò (có 8 con lai Sind), tổng đàn lợn 492 con, đàn gà 4000 con.
Về lâm nghiệp: rừng đã được giao cho từng hộ dân bảo vệ quản lý, do đó, rừng được bảo vệ tốt. Về che phủ diện tích rừng nghèo, rừng cây bụi, ban quản lý thôn bản xây dựng kế hoạch vận động bà con phát dọn trồng cây Keo vừa để che đất trống đồi trọc, vừa tăng thêm thu nhập kinh tế gia đình. Đến nay toàn thôn bản có 67 hộ trồng rừng mới diện tích hơn 70 ha. Hàng năm, ban quản lý thôn phối kết hợp với các ngành chức năng nhưhạt kiểm lâm, trạm Pù mát tuyên truyền phổ biến cho nhân dân bảo vệ phòng cháy, chữa cháy rừng từ 1-2 lần/năm.
Đời sống kinh tế của dân bản đang từng bước được cải thiện, tăng lên rõ rệt, từ một thôn có tỷ lệ hộ nghèo 75% ( 90/120 hộ năm 2005), đến năm 2010, thôn bản còn 21.3% (30/141 hộ).
Về văn hoá xã hội: hàng năm kết hợp với ban văn hoá xã họp dân, tuyên truyền vận động các hộ dân đăng ký xây dựng gia đình văn hoá với các tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể. Cuối năm họp dân bình để xét gia đình đạt gia đình văn hoá. Số hộ đạt gia đình văn hoá đạt ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, năm 2005 có 58% hộ đạt (70/120) đến năm 2010, số hộ đạt tăng là 78% (110/141. Con em trong làng được đi học đúng độ tuổi, số lượng cháu đỗ vào các trường cao đẳng, đại học ngày càng nhiều.
Thôn bản đã xây dựng được nhiều mô hình hoạt động văn hóa xã hội, như đội văn nghệ, thể thao phục vụ nhu cầu văn hoá của bà con vào các ngày lễ lớn; câu lạc bộ đàn hát dân ca Thái với 14 thành viên; câu lạc bộ không sinh con thứ 3 (do chị làm chủ nhiệm; câu lạc bộ hoạt động tốt… 12 năm liền, trong thôn không có trường hợp sinh con thứ 3. Năm 2007, thôn bản chị được xã chọn làm điểm xây dựng làng văn hoá và năm 2008 được UBND huyện công nhận làng văn hoá cấp huyện.
Về xây dựng cơ bản: được sự hỗ trợ của UBND huyện, phòng nông nghiệp (cho thôn bản vay xi măng), chị đã mạnh dạn thực hiện việc bê tông hoá kênh mương, đến nay 1.300 m mương đã được bê tông hoá. Ban lãnh đạo thôn bản đã vận động được nhân dân đóng góp tiền của, công sức xây dựng các công trình chung như: bờ rào hội trường thôn kiên cố với chiều dài 120 m, tổng kinh phí 22.500.000 đồng (2008); xây cầu cống, lát đường nội thôn được 20 cái cống; hàng năm đào rãnh, rải sỏi nâng cấp đường nội thôn được 3 km.
Về quốc phòng an ninh: Công tác quốc phòng được triển khai hàng năm, vận động thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự đầy đủ theo chỉ tiêu. Mỗi năm thôn bản đềucó 1 – 2 thanh niên lên đường nhập ngũ.
Về an ninh trật tự trong thôn bản: cơ cấu 1 phó bản kiêm công an viên và thành lập đội dân quân tự về gồm 7 đồng chí. Đội dân quân tự vệ hàng năm đều được tham huấn luyện tại xã, hàng ngày bảo vệ an ninh trật tự trong thôn bản, do đó an ninh được giữ vững, không có điểm nóng xảy ra, nhân dân an tâm sản xuất, chăn nuôi
Ngoài ra chị còn tổ chức tốt các ngày kỷ niệm, ngày lễ lớn: Lễ thành lập Chi bộ Môn Sơn (tháng 4 hàng năm), ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất, ngày đại đoàn kết toàn dân 18/11 hàng năm… Tổ chức các hoạt động biểu diễn văn hoá, văn nghệ quần chúng nhằm nâng đời sống tinh thân cho nhân dân, vận động nhân dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư.
Đặc biệt, chị rất tâm đắc với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Vừa là Đảng viên, vừa là người đứng đầu quản lý, điều hành một thôn bản, chị thấy mình cần phải thực hiện tốt vận động trước hết từ bản thân. Chị đã tìm cách học theo Bác về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, quan liêu, gần dân, không xa rời dân chúng. Học theo Bác lấy dân làm gốc, làm nền tảng cho cơ sở làm việc, học phong cách, lề lối làm việc của Bác…Đặc biệt đối với thực trạng hiện nay của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, muốn lấy được lòng tin thì nói phải đi đôi với làm, nói ít làm nhiều thì dân mới tin tưởng, mới nể và kính trọng đúng như lời bác Hồ đã dạy “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Từ những nỗ lực của bản thân và sự đồng thuận của nhân nhân trong thôn bản đã giúp chị hoàn thành tốt nhiệm vụ, được các cấp các ngành ghi nhận, động viên khen thưởng:
Tập thể thôn bản được UBND xã tặng nhiều giấy khen về thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng, bảo vệ chủ quyền biên giới; trong công tác hội khuyến học – hội chữ thập đỏ; thành tích làm đường giao thông nông thôn; về công tác quốc phòng an ninh… Được uỷ ban UBND huyện tặng giấy khen 5 năm thực hiện phong trào thi đua yêu nước; thực hiện an ninh quốc phòng.
Bản thân chị cũng xã, huyện tặng giấy khen: thành tích 20 năm ngày biên phòng toàn dân (UBND xã, huyện); thành tích làm nhiều việc tốt (UBMTTQ huyện); Đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 3 năm (Đảng uỷ xã).