Tuổi nghỉ hưu ở Lào, Campuchia và Trung Quốc từ góc độ bình đẳng giới
Tại Lào: Bộ luật Lao động được ban hành năm 1994 quy định, phụ nữ có quyền nghỉ hưu 55 tuổi, nam 60 tuổi. Tuy nhiên vào cuối năm 2006, Bộ luật đã được sửa đổi, theo đó nam và nữ có tuổi nghỉ hưu ngang bằng là 60. Riêng phụ nữ nếu cần thiết có thể xin nghỉ hưu trước 60 tuổi, nhưng không dưới 55 tuổi với thời gian làm việc cho nhà nước là 25 năm. Đối với những đối tượng đang làm việc tại các lĩnh vực nguy hiểm gây ảnh hưởng đến sức khỏe liên tục trong khoảng thời gian từ 5 năm trở lên thì phụ nữ có thể nghỉ hưu sớm hơn nhưng không dưới 50 tuổi với thời gian làm việc cho nhà nước là 20 năm.
Việc quy định tuổi nghỉ hưu của nữ là 60 và ngang bằng với nam giới đã góp phần thúc đẩy sự tiến bộ nhiều mặt của phụ nữ, trong đó có sự tham gia của nữ trong quản lý, lãnh đạo. Quốc hội khóa 7 của Lào có 25% đại biểu là nữ. Số nữ Bí thư, Phó bí thư huyện ủy là 271 người (tăng 116 người so với năm 2005 - trước khi thay đổi về tuổi nghỉ hưu). Số nữ Bí thư Đảng ở thôn bản là 321 người, so với năm 2005 tăng 176 người[1].
Tại Campuchia: Điều 54, Luật Công chức Dân sự của Campuchia quy định tuổi nghỉ hưu của cả nam và nữ công chức là 55 tuổi với điều kiện đã phục vụ nhà nước 30 năm. Tuy nhiên gần đây luật này đã thay đổi và quy định nam và nữ công chức nghỉ hưu ở tuổi 60. Riêng đối với các lãnh đạo cấp cao (từ Quốc Vụ khanh - tương đương Thứ trưởng – trở lên) thì không giới hạn tuổi nghỉ hưu.
Tại Trung Quốc: Chính sách về tuổi nghỉ hưu của Trung Quốc ban hành năm 1951, theo đó tuổi nghỉ hưu của nam là 60 và nữ là 50. Qua các lần bổ sung sửa đổi, hiện nay, tuổi nghỉ hưu đối với nam là 60 và một số đối tượng nữ là từ 50 đến 60 tuổi. Ví dụ, Trưởng ban Quốc tế của Hội Liên hiệp Phụ nữ toàn quốc Trung Hoa, hoặc Trưởng ban Quốc tế của Hội Phụ nữ cấp tỉnh nghỉ hưu ở tuổi 60, các phụ nữ làm công chức khác nghỉ hưu ở tuổi 55; còn lại các phụ nữ như nữ công nhân làm viêc tại các nhà máy, công ty tư nhân nghỉ hưu ở tuổi 50.
Luật còn quy định một số trường hợp đặc thù mà nam, nữ có thể nghỉ hưu sớm hơn thông thường tới 10 năm (nam là 50 tuổi và nữ là 45 tuổi). Ví dụ, đối với cán bộ làm tại các Bộ, Ban, ngành, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp: những người bệnh tật, có giấy xác nhận của ủy ban giám định lao động, liên tục công tác trong ngành được 10 năm thì tuổi về hưu của nam là 50 và của nữ là 45; Đối với Công nhân: (i) Đối với các công việc nguy hiểm, ảnh hưởng đến sức khỏe như ở dưới hầm mỏ, nhiệt độ cao, trên độ cao, các công việc đồi hỏi nhiều sức lực hoặc các công việc ảnh hưởng đến sức khỏe thì tuổi về hưu của nam là 55, của nữ là 45; (ii) Đối với những người bệnh tật, có giấy xác nhận của ủy ban giám định lao động, liên tục công tác trong ngành được 10 năm thì tuổi về hưu của nam là 50 và của nữ là 45.
Cùng với sự phát triển và thay đổi của xã hội Trung Quốc, vấn đề tuổi hưu luôn là một đề tài thảo luận sôi nổi. Một trong những nội dung thảo luận chính là kiến nghị nâng độ tuổi về hưu do tuổi thọ trung bình của người dân Trung Quốc đang ngày càng tăng, hiện nay là 72 đối với nữ và 70 đối với nam – vấn đề này vẫn đang tiếp tục được Chính phủ Trung Quốc và các cơ quan liên quan thảo luận để đưa ra chính sách tuổi nghỉ hưu hợp lý.
Tìm hiểu phạm vi rộng hơn, chúng tôi thấy, trong những thập kỷ vừa qua, tuổi nghỉ hưu ở các quốc gia trên thế giới có xu hướng tăng và đồng thời được điều chỉnh hướng tới mục tiêu bình đẳng giới. Đến nay, khoảng 80% các nước quy định tuổi nghỉ hưu của phụ nữ và nam giới như nhau[2].
Thực tế đó đòi hỏi chúng ta cần xem xét sửa đổi các chính sách về tuổi nghỉ hưu cho phù hợp với thực tiễn – đặc biệt trong bối cảnh của Việt Nam, khi tuổi thọ của người dân đã tăng lên đáng kể (tuổi thọ bình quân của nam 70,2, của nữ 75,6[3]); tỷ lệ cán bộ nữ trong các vị trí ra quyết định còn thấp và chưa đạt yêu cầu, chỉ tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra… Việc qui định tuổi nghỉ hưu theo hướng đảm bảo bình đẳng giới cũng sẽ giúp phát huy tốt hơn khả năng lao động và cống hiến của cả nam và nữ, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, thực hiện đúng tinh thần của Công ước Quốc tế về chống phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) mà Việt Nam đã thông qua từ năm 1982.
(Bài viết có tham khảo thông tin do Đại sứ quán và Hội Phụ nữ các nước cung cấp)
[1] Nguồn: Phát biểu của Bà Si-sảy Lư-dệt Mun-sỏn - Ủy viên TW Đảng NDCM Lào, Chủ tịch Hội LHPN Lào trong chuyến thăm chính thức Việt Nam ngày 1-7/5/2012.
[2] Nguồn: Báo cáo tại hội thảo của Ủy ban các vấn đề xã hội: Giới và một số chính sách, pháp luật về xã hội, Quảng Ninh, 31/10-1/11/2009
[3] Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Tổng cục Thống kê.