Nữ sỹ Hằng Phương (1908 - 2008)

13/10/2008
Nhà thơ Hằng Phương tên thật là Lê Hằng Phương, sinh năm 1908 tại Quảng Nam. Bà sinh ra và lớn lên trong một gia đình nho học giàu lòng yêu nước. Cách mạng tháng Tám thành công (năm 1945), bà tích cực tham gia Hội Văn hoá cứu quốc. Bà là một trong những hội viên sáng lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam…

Mới lên tám tuổi, Hằng Phương đã phải sống với mẹ và ông ngoại vì lúc đó cha bà là Lê Dư đã theo Cụ Phan Bội Châu đi sang Nhật Bản trong phong trào Đông Du. Chứng kiến cảnh đàn áp dã man những người yêu nước của thực dân Pháp đã khiến cho bà từ thuở ấu thơ đã yêu thiết tha quê hương đất nước và căm thù giặc sâu sắc. Ham học hỏi, ngay từ khi còn nhỏ, Hằng Phương đã học thuộc các bài thơ chữ Nôm của các nhà thơ Việt Nam yêu nước. Bà còn học thuộc lòng truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc...

Khi phong trào Đông du thất bại, bà theo cha mẹ ra Hà Nội tiếp tục theo học chữ Hán, văn học Trung Quốc, văn học Pháp, và bà bắt đầu làm thơ. Năm 1938, bà tích cực tham gia vào hoạt động của “Hội truyền bá quốc ngữ”. Từ năm 1929 – 1943, bà có nhiều bài thơ đăng trên các báo “Đàn bà”, “Tri tân”, “Ngày nay”, “Hà Nội tân văn”, “Trung Bắc tân văn”, “Phụ nữ tân văn”... Năm 1943, Hằng Phương cùng các nhà thơ khác như: Vân Đài, Anh Thơ, Mộng Tuyết cho ra đời tập thơ “Hương Xuân”. Đây là tập thơ bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam của các tác giả nữ.

Cách mạng tháng Tám thành công (năm 1945), bà tích cực tham gia Hội Văn hoá cứu quốc và là một trong những hội viên sáng lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, bà cùng gia đình tham gia kháng chiến. Bà là trưởng banliên lạc văn nghệ phụ nữ liên khu 4, Hội viên Hội Văn nghệ Việt Nam.

Từ tháng 12/1953 cho đến lúc nghi hưu, bà đã công tác tạinhiều cơ quan khác nhau: cán bộ nghiên cứu Ban nghiên cứu Văn - Sử - Địa ở Việt Bắc, Viện Văn học, Hội Nhà văn Việt Nam...

Sau năm 1954, nữ sỹ cho ra mắt nhiều tác phẩm thơ, bút ký, khảo cứu văn học, nghiên cứu văn hoá dân gian, trong đó tiêu biểu là các tập thơ “Mùa gặt” (1961), “Hương đất nước”(1974), “Lòng quê”(1996) và rất nhiều bài thơ khác được đăng trên các báo và tạp chí trong nước, một số bài được dịch ra tiếng nước ngoài.

Nói đến cuộc đời của nữ sỹ Hằng Phương không thể không nhắc đến nhà văn Vũ Ngọc Phan, người vừa là người bạn, vừa là người chồng đã góp phần rất lớn giúp bà có được những thành công trong sự nghiệp sáng tác thơ văn. Trong những năm kháng chiến chống Pháp gian khổ, bà đã cùng chồng nuôi dạy 8 người con trưởng thành.

Nhà thơ Hằng Phương mất ngày 2/2/1983. Bà mất đi để lại cho giới văn học, nghệ thuật Việt Nam những vần thơ nhân hậu, một tấm lòng luôn yêu mến con người, một trái tim không tắt - như lời một nhà thơ đã viết.

Giới thiệu bài thơ Nữ sỹ viết sau khi Bác mất

Nhớ Bác

Ánh trăng sáng quá trăng ơi

Dưới trăng là cả bầu trời trong veo

Bác đi khuất núi, khuất đèo

Nhớ thương cả nước dõi theo bóng Người

Ánh trăng hay ánh mắt ngời

Mến yêu soi khắp cõi đời từ nay

Tóc Người trắng xoá mây bay

Nghìn năm mây ở chốn này quê hương

Lời Người giục giã lên đường

Người đi để lại tình thương muôn vàn

(22/10/1969)

Dương Thuỷ
Bảo tàng PNVN

TÂM ĐIỂM

CÁC ĐỀ ÁN

Video